Ngân hàng "lấn sân" chứng khoán, mảnh ghép sinh lời giữa lúc NIM thu hẹp

(TBTCO) - Trước áp lực thu hẹp NIM, nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh "lấn sân" sang lĩnh vực chứng khoán, đây là mảnh ghép có tiềm năng tăng trưởng dài hạn. Các công ty chứng khoán "chung nhà" ngân hàng có hiệu quả vượt trội về sinh lời, song cần lưu ý các rủi ro phát sinh, đặc biệt khi mở rộng mảng trái phiếu.
aa

Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu

MSB bận rộn với nhiều kế hoạch tăng vốn, thoái vốn và lấn sân sang chứng khoán Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Lợi nhuận tiếp đà tăng tốc, cổ tức sắp tái xuất sau 9 năm

VIS Rating vừa công bố báo cáo mới nhất về ngành ngân hàng, tập trung phân tích lợi nhuận và rủi ro phát sinh từ việc mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ chứng khoán.

Tìm động lực mới khi NIM co hẹp

Theo VIS Rating, việc mở rộng sang lĩnh vực chứng khoán sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập từ phí dịch vụ và khai thác hiệu quả mạng lưới khách hàng để phát triển hệ sinh thái của ngân hàng. Các ngân hàng đang nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách mở rộng danh mục sản phẩm và dịch vụ; đồng thời, phát triển hệ sinh thái tài chính nhằm thúc đẩy bán chéo và thu hút khách hàng mới.

Ngày càng nhiều ngân hàng gia tăng các dịch vụ môi giới chứng khoán và thị trường vốn, đây là những mảng có biên lợi nhuận cao hơn so với hoạt động cho vay truyền thống, nhằm củng cố và phát triển hệ sinh thái tài chính của mình.

Ngân hàng
Nguồn: VIS Rating.

Động thái này đặt trong bối cảnh hoạt động cho vay truyền thống của ngân hàng đang chịu áp lực từ sự cạnh tranh gay gắt, biên lợi nhuận mỏng hơn và hạn mức tăng trưởng tín dụng. Trong 3 tháng đầu năm 2025, biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng đã giảm 35 điểm cơ bản xuống còn 2,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong bối cảnh thị trường chứng khoán được đánh giá là kênh dẫn vốn hiệu quả và còn nhiều dư địa tăng trưởng, trong 6 tháng đầu năm, nhiều ngân hàng tư nhân như Sacombank, SeABank, MSB đều công bố kế hoạch mua cổ phần tại công ty chứng khoán, trong khi OCB và VIB lựa chọn hướng đi thông qua hợp tác chiến lược.

Đơn cử, Sacombank dự kiến triển khai kế hoạch góp vốn hoặc mua cổ phần một công ty chứng khoán để trở thành công ty con, với tỷ lệ sở hữu trên 50% vốn điều lệ và tổng giá trị đầu tư tối đa 1.500 tỷ đồng. Ngân hàng định hướng lựa chọn những công ty chứng khoán có chất lượng tài sản tốt và dịch vụ phù hợp nhằm phát triển các mảng đầu tư chuyên sâu.

Tương tự, MSB cũng mong muốn hoàn thiện hệ sinh thái tài chính thông qua việc sở hữu cả công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ. Theo lãnh đạo MSB, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để ngân hàng phát triển mảng quản lý tài sản cao cấp, cung cấp các sản phẩm đầu tư đa dạng như quỹ mở, quỹ hưu trí, quỹ trái phiếu, cổ phiếu… nhằm phục vụ nhóm khách hàng tiềm năng có nhu cầu đầu tư bài bản. MSB nhắm đến các công ty chứng khoán có quy mô vốn điều lệ từ 300 - 500 tỷ đồng và hỗ trợ tăng vốn để thúc đẩy hoạt động.

Không nằm ngoài xu hướng, SeABank cũng xúc tiến kế hoạch mua cổ phần tại Công ty Chứng khoán ASEAN để đưa đơn vị này trở thành công ty con trực thuộc ngân hàng.

OCB cũng bày tỏ sự quan tâm mạnh mẽ tới thị trường chứng khoán, coi đây là “mảnh ghép” cần thiết để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng lực phục vụ khách hàng, đặc biệt là nhóm khách hàng ưu tiên và thúc đẩy thu nhập ngoài lãi.

Dẫn dắt tư vấn phát hành trái phiếu và rủi ro tiềm ẩn

Nhóm phân tích từ VIS Rating cho rằng, mặc dù việc đầu tư vào công ty con trong lĩnh vực chứng khoán sẽ làm giảm tỷ lệ an toàn vốn trong ngắn hạn, các ngân hàng vẫn tin tưởng rằng mở rộng sang lĩnh vực này sẽ cải thiện khả năng sinh lời.

Ngân hàng
Số liệu tính đến cuối năm 2024. Ảnh: T.L.

Công ty chứng khoán “cùng nhà” ngân hàng vượt trội về hiệu quả sinh lời

"Trong 3 năm qua, tỷ suất lợi nhuận trên bình quân tổng tài sản (ROAA) của các công ty chứng khoán liên kết với ngân hàng đạt trung bình 5,5%, vượt trội so với mức 3,5% của các công ty cùng ngành. Ngược lại, tăng trưởng lợi nhuận của các công ty chứng khoán có vốn nước ngoài và quy mô nhỏ trong nước sẽ chậm hơn, do hạn chế về tập khách hàng và quy mô hoạt động làm giảm khả năng cạnh tranh" - VIS Rating phân tích.

Đơn cử, năm 2024, một số công ty chứng khoán liên kết với ngân hàng như Công ty cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) đóng góp đáng kể gần 20% vào lợi nhuận của ngân hàng mẹ.

Cùng với đó, trong 3 năm qua, các công ty liên kết ngân hàng tư nhân được "bơm vốn" đã vươn lên vị thế đáng kể trong top 30 về quy mô tài sản nhờ các đợt tăng vốn lớn. Thị phần cho vay ký quỹ của các công ty này cũng tăng từ 19% năm 2022 lên 30% năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ.

"Chúng tôi kỳ vọng các công ty liên kết với ngân hàng tư nhân sẽ tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng lợi nhuận ngành trong 12 - 18 tháng tới" - VIS Rating đánh giá.

Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán liên kết với ngân hàng thường tận dụng vốn và mạng lưới khách hàng của ngân hàng mẹ để mở rộng thị phần môi giới và phân phối trái phiếu, đây là một lợi thế mà các công ty chứng khoán không thuộc hệ sinh thái ngân hàng khó có thể cạnh tranh.

Theo đó, các ngân hàng và công ty chứng khoán liên kết thường hợp tác chặt chẽ để cho vay các doanh nghiệp lớn, chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản và năng lượng tái tạo thông qua các khoản cho vay khách hàng, đầu tư trái phiếu hoặc cho vay ký quỹ.

Cùng với đó, một số doanh nghiệp gần đây vướng vào các vấn đề pháp lý liên quan đến dự án hoặc chậm trả trái phiếu doanh nghiệp. Các công ty chứng khoán cũng có thể cam kết mua lại trái phiếu đã bán cho khách hàng cá nhân như một phần của hoạt động phân phối trái phiếu. Tuy nhiên, nhiều rủi ro cũng cần được lưu ý.

"Việc các ngân hàng và công ty chứng khoán tập trung tín dụng cao vào các doanh nghiệp lớn đang làm gia tăng rủi ro hoạt động và sẽ dễ bị tổn thương trước các các rủi ro tín dụng liên quan đến từng khách hàng lớn, từ đó, có thể dẫn đến tình huống rút tiền hàng loạt từ khách hàng" - VIS Rating lưu ý.

Để hạn chế tổn thất tín dụng, điều quan trọng là các ngân hàng và công ty chứng khoán liên kết cần thiết lập tốt tiêu chí lựa chọn khách hàng mới và tăng cường quản lý tài sản đảm bảo./.

Xu hướng ngân hàng mở rộng sang lĩnh vực chứng khoán ngày càng rõ nét. Năm 2022, VPBank đã mua lại Công ty Chứng khoán ASC, đổi tên thành VPBankS và nâng vốn điều lệ lên 15.000 tỷ đồng để mở rộng hoạt động đầu tư. Nhiều ngân hàng lớn cũng có công ty chứng khoán trực thuộc như Vietcombank với VCBS; ACB với ACBS; Techcombank với TCBS; MB với MBS... Năm 2024, TCBS đóng góp gần 20% vào lợi nhuận của ngân hàng mẹ; VPBankS đóng góp khoảng 7,7%...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

Từ ngày 22 - 24/10, tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế về Ngân hàng và Tài chính Việt Nam 2026 (Vietnam Symposium in Banking and Finance 2026 - VSBF 2026) diễn ra, với sự phối hợp tổ chức của Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), Học viện Ngân hàng, Hiệp hội Quốc tế về Phát triển Kinh tế Tài chính (ISAFE) và Đại học Massey.
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 14,120
Trang sức 99.9 13,400 14,000
Trang sức 99.99 13,410 14,010
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 25/10/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 25/10/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30