Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ý kiến cho rằng, chính sách tiền tệ nới lỏng giúp tín dụng tăng tốc lên 17 - 18% cả năm, song NIM của hầu hết các ngân hàng đều dự báo suy giảm. Kết quả kinh doanh dự kiến kém tích cực sẽ làm giảm đáng kể khả năng mở rộng dự phòng của các ngân hàng và làm dấy lên lo ngại về khả năng cải thiện chất lượng tài sản.
aa
Tín dụng bứt tốc 9,9%, giữ thế chủ động điều hành lãi suất khi bỏ room Chính sách tài khóa vững vàng "chèo lái" tăng trưởng khi tiền tệ dần cạn dư địa Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 30/6/2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt 9,9% so với đầu năm, vượt xa mức 6,1% cùng kỳ. Mức tăng mạnh này chủ yếu được dẫn dắt bởi tín dụng doanh nghiệp nhờ mặt bằng lãi suất cho vay vẫn duy trì thấp. Ngược lại, tín dụng bán lẻ tăng chậm hơn do nhu cầu yếu, phản ánh quá trình phục hồi dè dặt của thị trường vay mua nhà và tiêu dùng.

Tăng trưởng tín dụng lan rộng, nhiều động lực giúp bứt tốc cuối năm

Số liệu sơ bộ từ các ngân hàng thương mại cho thấy, đà tăng trưởng tín dụng đang lan rộng toàn ngành. Phát biểu tại Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2025 vừa diễn ra, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank cho biết, trong 6 tháng đầu năm, dư nợ tín dụng của ngân hàng đạt 1,6 triệu tỷ đồng, tăng 11,1% so với cuối năm 2024. Chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát hiệu quả với tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 1%.

Nửa đầu năm 2025, Vietcombank tập trung cấp tín dụng cho lĩnh vực sản xuất, các ngành ưu tiên, tài trợ nhiều dự án lớn, đồng thời đẩy mạnh tín dụng xanh, xuất khẩu và khách hàng FDI. Ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng tối thiểu 16,5% trong năm 2025.

Dư nợ cho vay nền kinh tế của Agribank tính đến hết tháng 6/2025 đạt hơn 1,85 triệu tỷ đồng, tăng 7,6% so với đầu năm và cao hơn cùng kỳ.

Trong khi đó, Chủ tịch Hội đồng Quản trị VietinBank cũng cho biết, ngân hàng ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong 6 tháng đầu năm, với dư nợ tín dụng ước tăng khoảng 10% so với cuối năm 2024.

Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu
Nguồn: MBS.

Trong báo cáo ngành ngân hàng được Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) công bố ngày 11/7 với tựa đề: "Chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ hỗ trợ tăng trưởng trong giai đoạn 2025 - 2026", MBS nhận thấy, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng nhanh hơn so với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.

Tuy nhiên, biên lãi ròng (NIM) của khối ngân hàng tư nhân lại suy giảm mạnh hơn, do triển khai chiến lược hạ lãi suất cho vay tích cực. Ngược lại, các ngân hàng quốc doanh duy trì lãi suất đầu ra ổn định kể từ khi chính sách tiền tệ được nới lỏng từ quý III/2023.

Nhóm phân tích dự báo hoạt động cho vay trong nửa cuối năm 2025 và ước tăng trưởng đạt khoảng 17 - 18% cả năm nhờ nhiều yếu tố chính. Theo đó, kỳ vọng tiến độ sẽ được đẩy nhanh trong phần còn lại của năm nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8%. Tính đến tháng 5/2025, giải ngân đạt 7,7 tỷ USD, tăng 38,8% cùng kỳ, mới hoàn thành 25,2% kế hoạch cả năm.

"Hướng tới bỏ “room tín dụng” sẽ giúp các ngân hàng có nền tảng vững mạnh tăng khả năng cạnh tranh nhờ tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cao, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) thấp. Đồng thời, người vay có lịch sử tín dụng tốt không bị giới hạn vay vốn vì lý do kỹ thuật. Việc bỏ room cũng kỳ vọng sẽ xóa bỏ tình trạng "đẩy tín dụng" vào cuối quý, cuối năm" - MBS đánh giá.

Cùng với đó, thực thi Nghị quyết số 68-NQ/TW, giúp tăng vai trò kinh tế tư nhân với tỷ trọng đóng góp GDP dự kiến đạt 55-58% và 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Các hỗ trợ bao gồm miễn lệ phí môn bài và thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm đầu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích cấp tín dụng theo dòng tiền thay vì tài sản đảm bảo, giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp vừa và nhỏ và startup.

Đối với lĩnh vực bất động sản, Nghị quyết số 68-NQ/TW cũng tháo gỡ hiệu quả các nút thắt pháp lý và hành chính với các biện pháp như: chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, khuyến khích mô hình vay mới dựa trên dòng tiền, phân định rõ trách nhiệm pháp nhân - cá nhân.

MBS kỳ vọng hầu hết các ngân hàng sẽ đạt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025, dù phải đối mặt với áp lực suy giảm biên lãi ròng (NIM). Những ngân hàng có các đặc điểm sau sẽ có khả năng tăng trưởng mạnh mẽ hơn: (i) tỷ trọng dư nợ cao ở các lĩnh vực hưởng lợi từ chính sách như đầu tư công và doanh nghiệp vừa và nhỏ; (ii) duy trì NIM và chất lượng tài sản ổn định so với mặt bằng ngành; (iii) tăng trưởng huy động mạnh trong quý I/2025 giúp đảm bảo thanh khoản.

Bao phủ nợ xấu suy yếu, khả năng trích lập dự phòng giảm tốc

Về chất lượng tài sản, theo MBS, tỷ lệ nợ xấu (NPL) dao động quanh mức 2% trong 2 năm qua và chưa có xu hướng cải thiện rõ ràng. Nợ nhóm 2 giảm nhưng dự phòng bao nợ xấu (LLR) biến động do nhiều ngân hàng giảm tốc trích lập.

"Do đó, chúng tôi lo ngại rằng kết quả kinh doanh dự kiến kém tích cực sẽ làm giảm đáng kể khả năng mở rộng dự phòng của các ngân hàng trong vài năm tới, đồng nghĩa với việc chất lượng tài sản khó có thể cải thiện rõ rệt vào cuối năm 2025. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh cho vay bán lẻ cũng tạo thêm áp lực lên NPL của các ngân hàng niêm yết trong trung hạn" - MBS lo ngại.

Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu
Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu. Ảnh: T.L.

Tỷ lệ bao phủ rơi về đáy kể từ đại dịch

"Tỷ lệ NPL đã bất ngờ giảm 34 điểm cơ bản cuối quý IV/2024 (từ 2,25% xuống 1,91%) nhưng nhanh chóng tăng lại lên 2,15% vào cuối quý I/2025. Trong khi đó, nợ nhóm 2 duy trì xu hướng giảm, nhưng LLR tiếp tục suy giảm còn 80,2%, mức thấp nhất kể từ Covid-19" - MBS phân tích.

Hầu hết các ngân hàng trong phạm vi theo dõi ghi nhận chất lượng tài sản giảm trong quý I/2025 dù tín dụng cải thiện, với tỷ lệ NPL tăng 5 - 55 điểm cơ bản so với đầu năm. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ nhóm 2 không đổi hoặc giảm tại các ngân hàng đã chủ động trích lập như: VPBank, VietinBank, VIB, trong khi vẫn tăng ở phần còn lại.

Dựa trên dự báo chất lượng tài sản không được cải thiện rõ rệt và chính sách trích lập thận trọng, MBS ước tính tỷ lệ LLR của các ngân hàng niêm yết chỉ tăng nhẹ vào cuối năm 2025.

Đánh giá triển vọng 2025, MBS dự báo tín dụng sẽ được dẫn dắt mạnh hơn bởi mảng bán lẻ. Do đó, các ngân hàng có khả năng duy trì trích lập dự phòng tương đương năm trước để kiểm soát nợ xấu. Chi phí dự phòng được ước tính tăng 12,5% so với cùng kỳ trong năm 2025, cao hơn mức 7,5% năm 2024, nhưng thấp hơn mức 16,9% dự báo trước đó nhờ xu hướng nợ nhóm 2 giảm và trích lập thấp hơn dự kiến trong quý I/2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Góp ý về quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác với một số đối tượng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một số đại biểu Quốc hội lưu ý phải kiểm soát chặt rủi ro, tránh nguy cơ hạ chuẩn an toàn hệ thống, dễ bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,410 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,410 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,410 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,410 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,410 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,410 ▲10K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,720 ▲10K 14,320 ▲10K
Trang sức 99.99 13,730 ▲10K 14,330 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▲1270K 14,412 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▲1270K 14,413 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▲1K 1,436 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▲1K 1,437 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 ▲1K 1,421 ▲1279K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 ▲99K 140,693 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 ▲75K 106,736 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 ▲78296K 96,788 ▲87116K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 ▼69275K 8,684 ▼78095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 ▲59K 83,003 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 ▲44655K 59,412 ▲53475K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲1270K 1,441 ▲1297K
Cập nhật: 10/08/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17920 18194 18773
CAD 18189 18465 19083
CHF 31654 32034 32682
CNY 0 3840 3940
EUR 29561 29783 30866
GBP 34451 34843 35781
HKD 0 3201 3404
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15076 15664
SGD 19887 20169 20749
THB 708 771 824
USD (1,2) 25875 0 0
USD (5,10,20) 25915 0 0
USD (50,100) 25943 25957 26327
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,600 29,624 31,027
JPY 160.65 160.94 170.66
GBP 34,616 34,710 35,908
AUD 18,117 18,182 18,868
CAD 18,378 18,437 19,118
CHF 31,902 32,001 32,953
SGD 20,008 20,070 20,855
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,264 3,274 3,412
KRW 17.02 17.75 19.3
THB 754.32 763.64 817.59
NZD 15,035 15,175 15,629
SEK - 2,706 2,802
DKK - 3,970 4,110
NOK - 2,700 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.46 - 6,744.07
TWD 732.74 - 887.66
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,930 25,940 26,320
EUR 29,624 29,743 30,936
GBP 34,614 34,753 35,785
HKD 3,263 3,276 3,392
CHF 31,753 31,881 32,809
JPY 161.12 161.77 169.63
AUD 18,104 18,177 18,774
SGD 20,070 20,151 20,747
THB 771 774 811
CAD 18,383 18,457 19,044
NZD 15,120 15,666
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19117
CAD 18360 18460 19474
CHF 31889 31919 33501
CNY 3812.1 3837.1 3972.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29727 29757 31482
GBP 34722 34772 36540
HKD 0 3355 0
JPY 161.65 162.15 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20032 20162 20893
THB 0 735.7 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,960 26,010 26,340
USD20 25,910 26,010 26,715
USD1 25,860 26,010 26,765
AUD 18,150 18,250 19,359
EUR 29,535 29,635 31,296
CAD 18,320 18,420 19,729
SGD 20,124 20,274 20,829
JPY 162.09 163.59 169.16
GBP 34,636 34,786 35,854
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80