Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ý kiến cho rằng, chính sách tiền tệ nới lỏng giúp tín dụng tăng tốc lên 17 - 18% cả năm, song NIM của hầu hết các ngân hàng đều dự báo suy giảm. Kết quả kinh doanh dự kiến kém tích cực sẽ làm giảm đáng kể khả năng mở rộng dự phòng của các ngân hàng và làm dấy lên lo ngại về khả năng cải thiện chất lượng tài sản.
aa
Tín dụng bứt tốc 9,9%, giữ thế chủ động điều hành lãi suất khi bỏ room Chính sách tài khóa vững vàng "chèo lái" tăng trưởng khi tiền tệ dần cạn dư địa Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 30/6/2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt 9,9% so với đầu năm, vượt xa mức 6,1% cùng kỳ. Mức tăng mạnh này chủ yếu được dẫn dắt bởi tín dụng doanh nghiệp nhờ mặt bằng lãi suất cho vay vẫn duy trì thấp. Ngược lại, tín dụng bán lẻ tăng chậm hơn do nhu cầu yếu, phản ánh quá trình phục hồi dè dặt của thị trường vay mua nhà và tiêu dùng.

Tăng trưởng tín dụng lan rộng, nhiều động lực giúp bứt tốc cuối năm

Số liệu sơ bộ từ các ngân hàng thương mại cho thấy, đà tăng trưởng tín dụng đang lan rộng toàn ngành. Phát biểu tại Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2025 vừa diễn ra, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank cho biết, trong 6 tháng đầu năm, dư nợ tín dụng của ngân hàng đạt 1,6 triệu tỷ đồng, tăng 11,1% so với cuối năm 2024. Chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát hiệu quả với tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 1%.

Nửa đầu năm 2025, Vietcombank tập trung cấp tín dụng cho lĩnh vực sản xuất, các ngành ưu tiên, tài trợ nhiều dự án lớn, đồng thời đẩy mạnh tín dụng xanh, xuất khẩu và khách hàng FDI. Ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng tối thiểu 16,5% trong năm 2025.

Dư nợ cho vay nền kinh tế của Agribank tính đến hết tháng 6/2025 đạt hơn 1,85 triệu tỷ đồng, tăng 7,6% so với đầu năm và cao hơn cùng kỳ.

Trong khi đó, Chủ tịch Hội đồng Quản trị VietinBank cũng cho biết, ngân hàng ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong 6 tháng đầu năm, với dư nợ tín dụng ước tăng khoảng 10% so với cuối năm 2024.

Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu
Nguồn: MBS.

Trong báo cáo ngành ngân hàng được Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) công bố ngày 11/7 với tựa đề: "Chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ hỗ trợ tăng trưởng trong giai đoạn 2025 - 2026", MBS nhận thấy, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng nhanh hơn so với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.

Tuy nhiên, biên lãi ròng (NIM) của khối ngân hàng tư nhân lại suy giảm mạnh hơn, do triển khai chiến lược hạ lãi suất cho vay tích cực. Ngược lại, các ngân hàng quốc doanh duy trì lãi suất đầu ra ổn định kể từ khi chính sách tiền tệ được nới lỏng từ quý III/2023.

Nhóm phân tích dự báo hoạt động cho vay trong nửa cuối năm 2025 và ước tăng trưởng đạt khoảng 17 - 18% cả năm nhờ nhiều yếu tố chính. Theo đó, kỳ vọng tiến độ sẽ được đẩy nhanh trong phần còn lại của năm nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8%. Tính đến tháng 5/2025, giải ngân đạt 7,7 tỷ USD, tăng 38,8% cùng kỳ, mới hoàn thành 25,2% kế hoạch cả năm.

"Hướng tới bỏ “room tín dụng” sẽ giúp các ngân hàng có nền tảng vững mạnh tăng khả năng cạnh tranh nhờ tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cao, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) thấp. Đồng thời, người vay có lịch sử tín dụng tốt không bị giới hạn vay vốn vì lý do kỹ thuật. Việc bỏ room cũng kỳ vọng sẽ xóa bỏ tình trạng "đẩy tín dụng" vào cuối quý, cuối năm" - MBS đánh giá.

Cùng với đó, thực thi Nghị quyết số 68-NQ/TW, giúp tăng vai trò kinh tế tư nhân với tỷ trọng đóng góp GDP dự kiến đạt 55-58% và 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Các hỗ trợ bao gồm miễn lệ phí môn bài và thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm đầu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích cấp tín dụng theo dòng tiền thay vì tài sản đảm bảo, giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp vừa và nhỏ và startup.

Đối với lĩnh vực bất động sản, Nghị quyết số 68-NQ/TW cũng tháo gỡ hiệu quả các nút thắt pháp lý và hành chính với các biện pháp như: chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, khuyến khích mô hình vay mới dựa trên dòng tiền, phân định rõ trách nhiệm pháp nhân - cá nhân.

MBS kỳ vọng hầu hết các ngân hàng sẽ đạt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025, dù phải đối mặt với áp lực suy giảm biên lãi ròng (NIM). Những ngân hàng có các đặc điểm sau sẽ có khả năng tăng trưởng mạnh mẽ hơn: (i) tỷ trọng dư nợ cao ở các lĩnh vực hưởng lợi từ chính sách như đầu tư công và doanh nghiệp vừa và nhỏ; (ii) duy trì NIM và chất lượng tài sản ổn định so với mặt bằng ngành; (iii) tăng trưởng huy động mạnh trong quý I/2025 giúp đảm bảo thanh khoản.

Bao phủ nợ xấu suy yếu, khả năng trích lập dự phòng giảm tốc

Về chất lượng tài sản, theo MBS, tỷ lệ nợ xấu (NPL) dao động quanh mức 2% trong 2 năm qua và chưa có xu hướng cải thiện rõ ràng. Nợ nhóm 2 giảm nhưng dự phòng bao nợ xấu (LLR) biến động do nhiều ngân hàng giảm tốc trích lập.

"Do đó, chúng tôi lo ngại rằng kết quả kinh doanh dự kiến kém tích cực sẽ làm giảm đáng kể khả năng mở rộng dự phòng của các ngân hàng trong vài năm tới, đồng nghĩa với việc chất lượng tài sản khó có thể cải thiện rõ rệt vào cuối năm 2025. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh cho vay bán lẻ cũng tạo thêm áp lực lên NPL của các ngân hàng niêm yết trong trung hạn" - MBS lo ngại.

Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu
Phía sau đà tăng tín dụng, nhiều ngân hàng đối diện nỗi lo NIM và dự phòng suy yếu. Ảnh: T.L.

Tỷ lệ bao phủ rơi về đáy kể từ đại dịch

"Tỷ lệ NPL đã bất ngờ giảm 34 điểm cơ bản cuối quý IV/2024 (từ 2,25% xuống 1,91%) nhưng nhanh chóng tăng lại lên 2,15% vào cuối quý I/2025. Trong khi đó, nợ nhóm 2 duy trì xu hướng giảm, nhưng LLR tiếp tục suy giảm còn 80,2%, mức thấp nhất kể từ Covid-19" - MBS phân tích.

Hầu hết các ngân hàng trong phạm vi theo dõi ghi nhận chất lượng tài sản giảm trong quý I/2025 dù tín dụng cải thiện, với tỷ lệ NPL tăng 5 - 55 điểm cơ bản so với đầu năm. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ nhóm 2 không đổi hoặc giảm tại các ngân hàng đã chủ động trích lập như: VPBank, VietinBank, VIB, trong khi vẫn tăng ở phần còn lại.

Dựa trên dự báo chất lượng tài sản không được cải thiện rõ rệt và chính sách trích lập thận trọng, MBS ước tính tỷ lệ LLR của các ngân hàng niêm yết chỉ tăng nhẹ vào cuối năm 2025.

Đánh giá triển vọng 2025, MBS dự báo tín dụng sẽ được dẫn dắt mạnh hơn bởi mảng bán lẻ. Do đó, các ngân hàng có khả năng duy trì trích lập dự phòng tương đương năm trước để kiểm soát nợ xấu. Chi phí dự phòng được ước tính tăng 12,5% so với cùng kỳ trong năm 2025, cao hơn mức 7,5% năm 2024, nhưng thấp hơn mức 16,9% dự báo trước đó nhờ xu hướng nợ nhóm 2 giảm và trích lập thấp hơn dự kiến trong quý I/2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80