Tín dụng bứt tốc 9,9%, giữ thế chủ động điều hành lãi suất khi bỏ room

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 6, tín dụng toàn hệ thống đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và cao nhất từ năm 2023 đến nay. Hiện Ngân hàng Nhà nước đang từng bước triển khai lộ trình bỏ room tín dụng, song quá trình này đòi hỏi mức độ chủ động cao hơn trong điều hành và ra quyết sách về lãi suất.
aa
Tín dụng bứt tốc 9,9%, giữ thế chủ động điều hành lãi suất khi bỏ room
Bỏ room tín dụng, hoạt động cho vay sẽ trở nên linh hoạt hơn, vốn lưu thông nhanh hơn, đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất. Ảnh: Đức Thanh

Chia sẻ tại buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, với những giải pháp đồng bộ, tín dụng tăng trưởng tích cực ngay từ đầu năm, cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2024. "Đến ngày 30/6, tín dụng nền kinh tế đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,32% cùng kỳ, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, sản xuất kinh doanh" - ông Hà nói.

Lãi suất thấp, hướng dòng vốn vào nhiều ngành ưu tiên

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng được Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà chỉ ra, đó là Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay.

Room tín dụng chỉ còn áp dụng với ngân hàng thương mại trong nước

"Trong năm 2025, chúng tôi gỡ bỏ việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với nhóm ngân hàng nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Như vậy, hiện chỉ còn các ngân hàng thương mại trong nước là Ngân hàng Nhà nước còn giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Đây là lộ trình tiến tới gỡ bỏ hoàn toàn giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thời gian tới. Hệ luỵ của quá khứ vẫn còn tồn tại, khó khăn của tổ chức tín dụng vẫn còn, để có những giải pháp xử lý tổng thể, trọn vẹn, việc dỡ bỏ room tín dụng phải có biện pháp, chính sách phù hợp đặc thù của Việt Nam" - ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Kết quả, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,29%/năm, giảm 0,64%/năm so với cuối năm 2024.

Làm rõ nguyên nhân tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ trong nửa đầu năm 2025, theo ông Nguyễn Xuân Bắc - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), trên cơ sở các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế và lạm phát năm 2025 do Quốc hội và Chính phủ đề ra, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 khoảng 16%, điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đã được giao cho các ngân hàng ngay từ đầu năm để các tổ chức tín dụng chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai.

Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Trong đó, dòng vốn tín dụng đổ vào nhiều lĩnh vực ưu tiên. Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 5,31% so với cuối năm 2024 và chiếm 23,16% dư nợ tín dụng nền kinh tế. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 5,71% so với cuối năm 2024, chiếm 17,51% (cùng kỳ năm 2024 giảm 0,15% so với cuối năm 2023).

Tín dụng xuất khẩu (không bao gồm đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) tăng 2,91% so với cuối năm 2024, chiếm 2,06% (cùng kỳ năm 2024 giảm 0,89%).

Tín dụng lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 15,69% so với cuối năm 2024, chiếm tỷ trọng 3,24% (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,67%). Tín dụng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 17,59% so với cuối năm 2024, chiếm 0,43% dư nợ tín dụng nền kinh tế.

Ngoài ra, ngành ngân hàng tích cực triển khai các chương trình tín dụng như: Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP, với quy mô hiện là 145.000 tỷ đồng; Chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho vay đầu tư hạ tầng, công nghệ số nhằm thực hiện các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia thuộc các lĩnh vực giao thông, điện lực và công nghệ số theo danh mục do các bộ, ngành công bố; cho vay đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản nâng quy mô lên 100.000 tỷ đồng…

Tín dụng tăng nhanh vượt huy động nhiều năm

Liên quan đến thực trạng tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn, ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, trong 2 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng huy động vốn chỉ bằng khoảng một nửa so với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Huy động vốn toàn hệ thống tăng 6,57% cùng kỳ, trong đó riêng khu vực dân cư tăng 4,44%, đây là mức tăng khá.

Việc tín dụng tăng nhanh hơn huy động do nền kinh tế đang trên đà phục hồi và tăng trưởng, dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng mạnh ở nhiều lĩnh vực. Dù vậy, theo ông Quang, đây vẫn được xem là diễn biến bình thường trong hoạt động của ngành ngân hàng.

Cũng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang được đẩy mạnh, nhiều ý kiến quan tâm đến lộ trình nới lỏng và tiến tới xóa bỏ trần tăng trưởng tín dụng (room tín dụng).

Thông tin về lộ trình này, ông Phạm Chí Quang cho biết, từ năm 2012, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu áp dụng cơ chế hạn mức tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh các tổ chức tín dụng tăng nóng bình quân 30%/năm, cá biệt có thời điểm lên tới 54%, lãi suất thị trường đẩy lên cao và các ngân hàng rơi vào vòng xoáy cạnh tranh không lành mạnh. Việc áp dụng biện pháp này đóng góp tích cực trong kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mỗ, tránh gây ra đổ vỡ và đảm bảo sự an toàn của hệ thống.

"Tuy nhiên, không có công cụ nào là vĩnh viễn. Thời gian qua, nhận thức đây là giải pháp mang tính hành chính, chúng tôi có các biện pháp, lộ trình cải tiến, đổi mới phương pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt từ năm 2024 - 2025" - ông Quang nêu rõ.

Cùng với đó, hiện nay, bối cảnh ngành ngân hàng có nhiều thay đổi, phần lớn các tổ chức tín dụng đều đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn khắt khe và quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế. Điều này tạo nền tảng cho ngành ngân hàng vận hành theo cơ chế thị trường linh hoạt và hiện đại hơn.

Bỏ room tín dụng đòi hỏi tính chủ động cao trong điều hành lãi suất

Theo ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, việc bỏ room tín dụng vừa tăng tính tự chủ của tổ chức tín dụng, vừa hài hoà các mục tiêu đảm bao an toàn hệ thống và kiểm soát lạm phát.

"Một khi bỏ room tín dụng, dư nợ nhiều tổ chức tín dụng sẽ tăng cao, lãi suất sẽ tăng. Các tổ chức quốc tế khuyến nghị khi chúng ta bỏ room tín dụng, một trong những biện pháp chính sách là tính chủ động rất cao trong việc quyết sách và điều hành lãi suất" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Dưới góc nhìn từ phía các ngân hàng, ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank cho rằng, việc tiến tới dỡ bỏ trần tín dụng là xu hướng tất yếu. Để đảm bảo an toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã và đang triển khai đồng bộ nhiều quy định và chính sách về quản trị rủi ro.

Trong đó, Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam như: tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, hệ số an toàn vốn... Đây là các quy định yêu cầu các ngân hàng thương mại khi cho vay ra đảm bảo các tỷ lệ, chỉ tiêu nhất định. Ngân hàng VietinBank sẽ đảm bảo tuân thủ mọi quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce sau khi giảm hơn 100 USD/ounce so với phiên trước, kéo chênh lệch với giá vàng trong nước lên 20 triệu đồng/lượng.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 14,600
Kim TT/AVPL 14,300 14,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,600
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 ▼50K 14,150 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 ▼50K 14,100 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 ▼50K 14,080 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,320 ▲70K 14,620
Miếng SJC Nghệ An 14,320 ▲70K 14,620
Miếng SJC Thái Bình 14,320 ▲70K 14,620
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▲50K 14,490 ▲50K
Trang sức 99.99 13,800 ▲50K 14,500 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,438 ▲6K 14,682 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,438 ▲6K 14,683 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 ▲6K 1,467 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 ▲6K 1,468 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,417 ▲6K 1,452 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 ▲594K 143,762 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,561 ▲450K 109,061 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,396 ▲408K 98,896 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,231 ▲366K 88,731 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,531 ▲35K 8,481 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,204 ▲250K 60,704 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Cập nhật: 26/06/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17602 17874 18458
CAD 18007 18282 18900
CHF 31867 32248 32898
CNY 0 3828 3921
EUR 29299 29519 30597
GBP 33929 34318 35263
HKD 0 3225 3427
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14544 15128
SGD 19764 20046 20623
THB 703 766 819
USD (1,2) 26046 0 0
USD (5,10,20) 26087 0 0
USD (50,100) 26116 26130 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,436 29,460 30,795
JPY 158.36 158.65 167.83
GBP 34,149 34,241 35,339
AUD 17,847 17,911 18,542
CAD 18,218 18,276 18,901
CHF 32,112 32,212 33,084
SGD 19,899 19,961 20,702
CNY - 3,801 3,938
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.68 16.35 17.75
THB 752.23 761.52 813.14
NZD 14,548 14,683 15,082
SEK - 2,659 2,747
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,623 2,710
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,004.73 - 6,764.28
TWD 746.19 - 901.83
SAR - 6,897.73 7,248
KWD - 83,270 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26454
AUD 17812 17912 18835
CAD 18189 18289 19304
CHF 32083 32113 33687
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29466 29496 31226
GBP 34232 34282 36034
HKD 0 3355 0
JPY 159.13 159.63 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14651 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19915 20045 20772
THB 0 732.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,143 26,193 26,454
USD20 26,143 26,193 26,454
USD1 23,936 26,193 26,454
AUD 17,798 17,898 19,005
EUR 29,584 29,584 31,340
CAD 18,120 18,220 19,527
SGD 19,977 20,127 20,691
JPY 159.63 161.13 165.69
GBP 34,083 34,433 35,590
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80