Tín dụng bứt tốc 9,9%, giữ thế chủ động điều hành lãi suất khi bỏ room

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 6, tín dụng toàn hệ thống đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và cao nhất từ năm 2023 đến nay. Hiện Ngân hàng Nhà nước đang từng bước triển khai lộ trình bỏ room tín dụng, song quá trình này đòi hỏi mức độ chủ động cao hơn trong điều hành và ra quyết sách về lãi suất.
aa
Tín dụng bứt tốc 9,9%, giữ thế chủ động điều hành lãi suất khi bỏ room
Bỏ room tín dụng, hoạt động cho vay sẽ trở nên linh hoạt hơn, vốn lưu thông nhanh hơn, đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất. Ảnh: Đức Thanh

Chia sẻ tại buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, với những giải pháp đồng bộ, tín dụng tăng trưởng tích cực ngay từ đầu năm, cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2024. "Đến ngày 30/6, tín dụng nền kinh tế đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,32% cùng kỳ, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, sản xuất kinh doanh" - ông Hà nói.

Lãi suất thấp, hướng dòng vốn vào nhiều ngành ưu tiên

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng được Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà chỉ ra, đó là Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay.

Room tín dụng chỉ còn áp dụng với ngân hàng thương mại trong nước

"Trong năm 2025, chúng tôi gỡ bỏ việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với nhóm ngân hàng nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Như vậy, hiện chỉ còn các ngân hàng thương mại trong nước là Ngân hàng Nhà nước còn giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Đây là lộ trình tiến tới gỡ bỏ hoàn toàn giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thời gian tới. Hệ luỵ của quá khứ vẫn còn tồn tại, khó khăn của tổ chức tín dụng vẫn còn, để có những giải pháp xử lý tổng thể, trọn vẹn, việc dỡ bỏ room tín dụng phải có biện pháp, chính sách phù hợp đặc thù của Việt Nam" - ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Kết quả, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,29%/năm, giảm 0,64%/năm so với cuối năm 2024.

Làm rõ nguyên nhân tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ trong nửa đầu năm 2025, theo ông Nguyễn Xuân Bắc - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), trên cơ sở các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế và lạm phát năm 2025 do Quốc hội và Chính phủ đề ra, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 khoảng 16%, điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đã được giao cho các ngân hàng ngay từ đầu năm để các tổ chức tín dụng chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai.

Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Trong đó, dòng vốn tín dụng đổ vào nhiều lĩnh vực ưu tiên. Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 5,31% so với cuối năm 2024 và chiếm 23,16% dư nợ tín dụng nền kinh tế. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 5,71% so với cuối năm 2024, chiếm 17,51% (cùng kỳ năm 2024 giảm 0,15% so với cuối năm 2023).

Tín dụng xuất khẩu (không bao gồm đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) tăng 2,91% so với cuối năm 2024, chiếm 2,06% (cùng kỳ năm 2024 giảm 0,89%).

Tín dụng lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 15,69% so với cuối năm 2024, chiếm tỷ trọng 3,24% (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,67%). Tín dụng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 17,59% so với cuối năm 2024, chiếm 0,43% dư nợ tín dụng nền kinh tế.

Ngoài ra, ngành ngân hàng tích cực triển khai các chương trình tín dụng như: Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP, với quy mô hiện là 145.000 tỷ đồng; Chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho vay đầu tư hạ tầng, công nghệ số nhằm thực hiện các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia thuộc các lĩnh vực giao thông, điện lực và công nghệ số theo danh mục do các bộ, ngành công bố; cho vay đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản nâng quy mô lên 100.000 tỷ đồng…

Tín dụng tăng nhanh vượt huy động nhiều năm

Liên quan đến thực trạng tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn, ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, trong 2 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng huy động vốn chỉ bằng khoảng một nửa so với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Huy động vốn toàn hệ thống tăng 6,57% cùng kỳ, trong đó riêng khu vực dân cư tăng 4,44%, đây là mức tăng khá.

Việc tín dụng tăng nhanh hơn huy động do nền kinh tế đang trên đà phục hồi và tăng trưởng, dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng mạnh ở nhiều lĩnh vực. Dù vậy, theo ông Quang, đây vẫn được xem là diễn biến bình thường trong hoạt động của ngành ngân hàng.

Cũng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang được đẩy mạnh, nhiều ý kiến quan tâm đến lộ trình nới lỏng và tiến tới xóa bỏ trần tăng trưởng tín dụng (room tín dụng).

Thông tin về lộ trình này, ông Phạm Chí Quang cho biết, từ năm 2012, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu áp dụng cơ chế hạn mức tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh các tổ chức tín dụng tăng nóng bình quân 30%/năm, cá biệt có thời điểm lên tới 54%, lãi suất thị trường đẩy lên cao và các ngân hàng rơi vào vòng xoáy cạnh tranh không lành mạnh. Việc áp dụng biện pháp này đóng góp tích cực trong kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mỗ, tránh gây ra đổ vỡ và đảm bảo sự an toàn của hệ thống.

"Tuy nhiên, không có công cụ nào là vĩnh viễn. Thời gian qua, nhận thức đây là giải pháp mang tính hành chính, chúng tôi có các biện pháp, lộ trình cải tiến, đổi mới phương pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt từ năm 2024 - 2025" - ông Quang nêu rõ.

Cùng với đó, hiện nay, bối cảnh ngành ngân hàng có nhiều thay đổi, phần lớn các tổ chức tín dụng đều đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn khắt khe và quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế. Điều này tạo nền tảng cho ngành ngân hàng vận hành theo cơ chế thị trường linh hoạt và hiện đại hơn.

Bỏ room tín dụng đòi hỏi tính chủ động cao trong điều hành lãi suất

Theo ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, việc bỏ room tín dụng vừa tăng tính tự chủ của tổ chức tín dụng, vừa hài hoà các mục tiêu đảm bao an toàn hệ thống và kiểm soát lạm phát.

"Một khi bỏ room tín dụng, dư nợ nhiều tổ chức tín dụng sẽ tăng cao, lãi suất sẽ tăng. Các tổ chức quốc tế khuyến nghị khi chúng ta bỏ room tín dụng, một trong những biện pháp chính sách là tính chủ động rất cao trong việc quyết sách và điều hành lãi suất" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Dưới góc nhìn từ phía các ngân hàng, ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank cho rằng, việc tiến tới dỡ bỏ trần tín dụng là xu hướng tất yếu. Để đảm bảo an toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã và đang triển khai đồng bộ nhiều quy định và chính sách về quản trị rủi ro.

Trong đó, Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam như: tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, hệ số an toàn vốn... Đây là các quy định yêu cầu các ngân hàng thương mại khi cho vay ra đảm bảo các tỷ lệ, chỉ tiêu nhất định. Ngân hàng VietinBank sẽ đảm bảo tuân thủ mọi quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

(TBTCO) - Bảo hiểm BIDV (BIC) dự kiến chi khoảng 242,48 tỷ đồng trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt, tỷ lệ 12%, tương đương 1.200 đồng/cổ phần, ngày đăng ký cuối cùng 8/10/2026.
Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.661 USD/ounce sau khi tăng hơn 15% trong một tháng. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn tiếp tục đi lên, có nơi đạt 154 triệu đồng/lượng.
Tỷ lệ nợ quá hạn lên 3,8%, sức ép thanh khoản và huy động vốn ngành ngân hàng gia tăng

Tỷ lệ nợ quá hạn lên 3,8%, sức ép thanh khoản và huy động vốn ngành ngân hàng gia tăng

(TBTCO) - VIS Rating cảnh báo rủi ro tài sản ngân hàng đang lan rộng, khi tỷ lệ nợ quá hạn tăng từ 3,3% lên 3,8% trong nửa đầu năm 2026. Trong bối cảnh lãi suất neo cao, khả năng trả nợ suy giảm, bộ đệm vốn ở mức khiêm tốn; trong khi đó, rủi ro huy động vốn và thanh khoản tiếp tục hiện hữu khi tín dụng trung, dài hạn tăng mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, vượt 4.650 USD/ounce. Trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục nhích tăng sau phiên tăng mạnh hôm qua, với vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng.
Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

(TBTCO) - Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 50% và gần 30 triệu cổ phiếu cho người lao động, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 106.600 tỷ đồng. Phương án mới điều chỉnh đáng kể so với kế hoạch trước, trong bối cảnh tín dụng của ngân hàng tăng mạnh và tiến sát hạn mức theo kịch bản đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông.
Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

(TBTCO) - Tiếp và làm việc với đoàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Bảo hiểm FWD, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế uy tín như FWD đầu tư lâu dài, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Hà Nội - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Miền Tây - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,730 ▼30K 15,030 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,730 ▼30K 15,030 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,730 ▼30K 15,030 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▼150K 15,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▼150K 15,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▼150K 15,150 ▼150K
NL 99.99 14,200 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼50K
Trang sức 99.9 14,460 ▼150K 15,060 ▼150K
Trang sức 99.99 14,470 ▼150K 15,070 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,473 ▼3K 15,032 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,473 ▼3K 15,033 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,468 ▼3K 1,498 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,468 ▼3K 1,499 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,443 ▼3K 1,488 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,327 ▼297K 147,327 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,961 ▼225K 111,761 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,544 ▼204K 101,344 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,127 ▲72996K 90,927 ▲81816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,109 ▼175K 86,909 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,406 ▼125K 62,206 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Cập nhật: 26/08/2026 23:35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18206 18481 19058
CAD 18289 18565 19182
CHF 31799 32180 32833
CNY 0 3841 3937
EUR 29805 30027 31110
GBP 34744 35137 36075
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15226 15817
SGD 20004 20286 20866
THB 712 775 828
USD (1,2) 25838 0 0
USD (5,10,20) 25878 0 0
USD (50,100) 25906 25920 26290
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,900 25,900 26,280
USD(1-2-5) 24,864 - -
USD(10-20) 24,864 - -
EUR 29,858 29,882 31,298
JPY 159.61 159.9 169.57
GBP 34,931 35,026 36,236
AUD 18,397 18,463 19,162
CAD 18,471 18,530 19,214
CHF 32,086 32,186 33,136
SGD 20,122 20,185 20,974
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 17.38 18.13 19.72
THB 759.53 768.91 823.52
NZD 15,208 15,349 15,801
SEK - 2,704 2,799
DKK - 4,004 4,146
NOK - 2,744 2,844
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,057.25 - 6,841.77
TWD 740.64 - 897.27
SAR - 6,829.72 7,193.83
KWD - 82,738 88,035
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,867 29,987 31,184
GBP 34,929 35,069 36,107
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,906 32,034 32,970
JPY 159.94 160.58 168.56
AUD 18,378 18,452 19,048
SGD 20,180 20,261 20,859
THB 777 780 817
CAD 18,473 18,547 19,139
NZD 15,261 15,808
KRW 18.02 20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26280
AUD 18392 18492 19417
CAD 18474 18574 19585
CHF 32074 32104 33687
CNY 3823.6 3848.6 3983.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30004 30034 31760
GBP 35071 35121 36878
HKD 0 3330 0
JPY 160.67 161.17 171.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15342 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20174 20304 21027
THB 0 741.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14750000 14750000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,940 25,940 26,300
USD20 25,890 25,940 26,841
USD1 25,840 25,940 26,891
AUD 18,418 18,518 19,630
EUR 29,818 29,918 31,579
CAD 18,455 18,555 19,862
SGD 20,266 20,416 21,671
JPY 161.05 162.55 168.09
GBP 35,022 35,172 36,436
XAU 14,758,000 0 15,062,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/08/2026 23:35
Ngân hàng