Tín dụng bứt tốc 9,9%, giữ thế chủ động điều hành lãi suất khi bỏ room

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 6, tín dụng toàn hệ thống đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và cao nhất từ năm 2023 đến nay. Hiện Ngân hàng Nhà nước đang từng bước triển khai lộ trình bỏ room tín dụng, song quá trình này đòi hỏi mức độ chủ động cao hơn trong điều hành và ra quyết sách về lãi suất.
aa
Tín dụng bứt tốc 9,9%, giữ thế chủ động điều hành lãi suất khi bỏ room
Bỏ room tín dụng, hoạt động cho vay sẽ trở nên linh hoạt hơn, vốn lưu thông nhanh hơn, đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất. Ảnh: Đức Thanh

Chia sẻ tại buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, với những giải pháp đồng bộ, tín dụng tăng trưởng tích cực ngay từ đầu năm, cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2024. "Đến ngày 30/6, tín dụng nền kinh tế đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,32% cùng kỳ, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, sản xuất kinh doanh" - ông Hà nói.

Lãi suất thấp, hướng dòng vốn vào nhiều ngành ưu tiên

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng được Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà chỉ ra, đó là Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay.

Room tín dụng chỉ còn áp dụng với ngân hàng thương mại trong nước

"Trong năm 2025, chúng tôi gỡ bỏ việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với nhóm ngân hàng nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Như vậy, hiện chỉ còn các ngân hàng thương mại trong nước là Ngân hàng Nhà nước còn giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Đây là lộ trình tiến tới gỡ bỏ hoàn toàn giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thời gian tới. Hệ luỵ của quá khứ vẫn còn tồn tại, khó khăn của tổ chức tín dụng vẫn còn, để có những giải pháp xử lý tổng thể, trọn vẹn, việc dỡ bỏ room tín dụng phải có biện pháp, chính sách phù hợp đặc thù của Việt Nam" - ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Kết quả, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,29%/năm, giảm 0,64%/năm so với cuối năm 2024.

Làm rõ nguyên nhân tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ trong nửa đầu năm 2025, theo ông Nguyễn Xuân Bắc - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), trên cơ sở các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế và lạm phát năm 2025 do Quốc hội và Chính phủ đề ra, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 khoảng 16%, điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đã được giao cho các ngân hàng ngay từ đầu năm để các tổ chức tín dụng chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai.

Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Trong đó, dòng vốn tín dụng đổ vào nhiều lĩnh vực ưu tiên. Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 5,31% so với cuối năm 2024 và chiếm 23,16% dư nợ tín dụng nền kinh tế. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 5,71% so với cuối năm 2024, chiếm 17,51% (cùng kỳ năm 2024 giảm 0,15% so với cuối năm 2023).

Tín dụng xuất khẩu (không bao gồm đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) tăng 2,91% so với cuối năm 2024, chiếm 2,06% (cùng kỳ năm 2024 giảm 0,89%).

Tín dụng lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 15,69% so với cuối năm 2024, chiếm tỷ trọng 3,24% (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,67%). Tín dụng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 17,59% so với cuối năm 2024, chiếm 0,43% dư nợ tín dụng nền kinh tế.

Ngoài ra, ngành ngân hàng tích cực triển khai các chương trình tín dụng như: Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP, với quy mô hiện là 145.000 tỷ đồng; Chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho vay đầu tư hạ tầng, công nghệ số nhằm thực hiện các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia thuộc các lĩnh vực giao thông, điện lực và công nghệ số theo danh mục do các bộ, ngành công bố; cho vay đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản nâng quy mô lên 100.000 tỷ đồng…

Tín dụng tăng nhanh vượt huy động nhiều năm

Liên quan đến thực trạng tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn, ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, trong 2 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng huy động vốn chỉ bằng khoảng một nửa so với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Huy động vốn toàn hệ thống tăng 6,57% cùng kỳ, trong đó riêng khu vực dân cư tăng 4,44%, đây là mức tăng khá.

Việc tín dụng tăng nhanh hơn huy động do nền kinh tế đang trên đà phục hồi và tăng trưởng, dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng mạnh ở nhiều lĩnh vực. Dù vậy, theo ông Quang, đây vẫn được xem là diễn biến bình thường trong hoạt động của ngành ngân hàng.

Cũng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang được đẩy mạnh, nhiều ý kiến quan tâm đến lộ trình nới lỏng và tiến tới xóa bỏ trần tăng trưởng tín dụng (room tín dụng).

Thông tin về lộ trình này, ông Phạm Chí Quang cho biết, từ năm 2012, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu áp dụng cơ chế hạn mức tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh các tổ chức tín dụng tăng nóng bình quân 30%/năm, cá biệt có thời điểm lên tới 54%, lãi suất thị trường đẩy lên cao và các ngân hàng rơi vào vòng xoáy cạnh tranh không lành mạnh. Việc áp dụng biện pháp này đóng góp tích cực trong kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mỗ, tránh gây ra đổ vỡ và đảm bảo sự an toàn của hệ thống.

"Tuy nhiên, không có công cụ nào là vĩnh viễn. Thời gian qua, nhận thức đây là giải pháp mang tính hành chính, chúng tôi có các biện pháp, lộ trình cải tiến, đổi mới phương pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt từ năm 2024 - 2025" - ông Quang nêu rõ.

Cùng với đó, hiện nay, bối cảnh ngành ngân hàng có nhiều thay đổi, phần lớn các tổ chức tín dụng đều đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn khắt khe và quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế. Điều này tạo nền tảng cho ngành ngân hàng vận hành theo cơ chế thị trường linh hoạt và hiện đại hơn.

Bỏ room tín dụng đòi hỏi tính chủ động cao trong điều hành lãi suất

Theo ông Vũ Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, việc bỏ room tín dụng vừa tăng tính tự chủ của tổ chức tín dụng, vừa hài hoà các mục tiêu đảm bao an toàn hệ thống và kiểm soát lạm phát.

"Một khi bỏ room tín dụng, dư nợ nhiều tổ chức tín dụng sẽ tăng cao, lãi suất sẽ tăng. Các tổ chức quốc tế khuyến nghị khi chúng ta bỏ room tín dụng, một trong những biện pháp chính sách là tính chủ động rất cao trong việc quyết sách và điều hành lãi suất" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Dưới góc nhìn từ phía các ngân hàng, ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank cho rằng, việc tiến tới dỡ bỏ trần tín dụng là xu hướng tất yếu. Để đảm bảo an toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã và đang triển khai đồng bộ nhiều quy định và chính sách về quản trị rủi ro.

Trong đó, Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam như: tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, hệ số an toàn vốn... Đây là các quy định yêu cầu các ngân hàng thương mại khi cho vay ra đảm bảo các tỷ lệ, chỉ tiêu nhất định. Ngân hàng VietinBank sẽ đảm bảo tuân thủ mọi quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80