MSB bận rộn với nhiều kế hoạch tăng vốn, thoái vốn và lấn sân sang chứng khoán

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, MSB bận rộn với nhiều kế hoạch lớn, theo đó, ngân hàng tiếp đà tăng vốn 20% lên 31.200 tỷ đồng, hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế kỷ lục 8.000 tỷ đồng. Cùng với đó, MSB cũng tái khởi động thoái vốn công ty tài chính và tìm cơ hội lấn sân sang lĩnh vực chứng khoán, quản lý quỹ.
aa
Cổ đông lớn muốn bán hơn 24 triệu cổ phiếu ngân hàng MSB Cuộc đua tăng vốn của các ngân hàng "nóng" ngay đầu năm Ngân hàng NCB khởi đầu năm với kết quả lạc quan, sắp tăng vốn lên 19.000 tỷ đồng

Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (mã Ck: MSB) vừa công bố thông tin họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025. Đại hội sẽ được tổ chức vào ngày 21/4 tại Tòa ROX Tower, số 54A Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa, TP. Hà Nội.

Chia cổ tức bằng cổ phiếu 20%, tăng vốn lên trên 31.000 tỷ đồng

MSB đặt mục tiêu tổng tài sản đến cuối năm 2025 đạt 350 nghìn tỷ đồng, tăng 9% so với đầu năm. Tổng huy động thị trường 1 và trái phiếu huy động vốn đạt 202 nghìn tỷ đồng, tăng 15%. Tổng dư nợ (bao gồm cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) đạt 212 nghìn tỷ đồng, tăng 20%. Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 3%.

Lợi nhuận tăng trưởng, vốn điều lệ "nhảy vọt"

Ngân hàng MSB phấn đấu đạt lợi nhuận trước thuế năm 2025 là 8.000 tỷ đồng, tăng 16% so với kết quả 2024, tiếp đà tăng trưởng hai con số sau năm 2023 giảm tốc đột ngột. Cũng trong năm 2025, MSB dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 20%, tăng vốn lên lên 31.200 tỷ đồng. Trong 5 năm gần đây, MSB ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ với lợi nhuận gấp 3 lần và vốn điều lệ tăng 2,7 lần.

Cũng trong năm 2025, MSB dự kiến phát hành thêm tối đa 520 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để chia cổ tức, tỷ lệ phát hành là 20%.

Nguồn vốn để phát hành cổ phiếu trả cổ tức tăng vốn điều lệ năm 2025 từ lợi nhuận có thể sử dụng để chia cổ tức sau khi trích lập quỹ và lợi nhuận còn lại các năm trước chưa chia (4.213,5 tỷ đồng).

Nếu phát hành thành công, vốn điều lệ của MSB sẽ tăng từ mức 26.000 tỷ đồng lên 31.200 tỷ đồng. Trước đó, năm 2024, MSB tăng vốn điều lệ từ 20 nghìn tỷ đồng lên 26 nghìn tỷ đồng theo hình thức phát hành cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu, với tỷ lệ 30%.

MSB bận rộn với nhiều kế hoạch tăng vốn, thoái vốn và lấn sân sang chứng khoán
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Về cơ cấu cổ đông, hiện một loạt các công ty kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản sở hữu cổ phần lớn tại MSB có thể kể đến như: Công ty Xây dựng và Kinh doanh cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp Hà Nội - Đài Tư nắm giữ 129 triệu cổ phiếu MSB, với tỷ lệ 4,98%; Công ty TNHH Thành phố Công nghệ Xanh Hà Nội sở hữu 4,97% vốn MSB; Công ty TNHH Khu nghỉ dưỡng Bãi Dài (4,96%); Công ty Cổ phần Đầu tư và Cho thuê Tài sản TNL (1,08%)…

Trước đó, năm 2024, MSB ghi nhận lợi nhuận sau thuế hợp nhất 5.519 tỷ đồng. Cùng với đó, dư nợ tín dụng đạt 177 nghìn tỷ, tăng trưởng 18%. Theo báo cáo tài chính cho ngân hàng này công bố, quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) cuối năm 2024 khoảng 4.700 tỷ đồng, tăng 10% cùng kỳ, tương ứng chiếm 2,68% tổng dư nợ.

Trong đó, trong khi nợ nhóm 3 và 4 giảm thì nợ xấu có khả năng mất vốn tăng lên gần 3.000 tỷ đồng, tương ứng tăng 63%. Ngoài ra, tỷ lệ bao phủ nợ xấu cũng phục hồi lên 64% so với mức 55% năm 2023, song thấp hơn con số 95% (năm 2021).

Tái khởi động thoái vốn công ty tài chính

Cũng trong năm 2025, MSB tái khởi động việc thoái vốn tại công ty con là Công ty Tài chính TNHH MTV TNEX (TNEX Finance) tiền thân là FCCOM, có vốn điều lệ 500 tỷ đồng và thuộc sở hữu 100% của MSB. Trước đó, cuối năm 2021, MSB từng ban hành nghị quyết về việc bán 100% vốn công ty tài chính này cho đối tác nước ngoài nhưng chưa thành công.

MSB bận rộn với nhiều kế hoạch tăng vốn, thoái vốn và lấn sân sang chứng khoán
MSB bận rộn với nhiều kế hoạch tăng vốn, thoái vốn và lấn sân sang chứng khoán. Ảnh tư liệu.

TNEX Finance có nhiều sản phẩm vay như: vay tiêu dùng siêu nhanh, vay tiêu dùng thông thường, vay hạn mức "tiêu trước trả sau" và sản phẩm vay dành cho nhà bán hàng trên sản thương mại điện tử.

Kết thúc năm 2024, TNEX Finance ghi nhận tổng tài sản đạt 3.807 tỷ đồng, tổng dư nợ cho vay đạt 1.774 tỷ đồng, doanh thu thuần đạt 358,8 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế khiêm tốn khoảng 5 tỷ đồng.

Trên cơ sở thực tiễn hoạt động của TNEX Finance những năm gần đây, để phát triển tốt, kinh doanh hiệu quả và tạo vị thế trên thị trường nhiều thách thức này, MSB dự kiến tìm kiếm đối tác chiến lược để chuyển nhượng TNEX Finance theo các phương án.

Một là, chuyển nhượng một phần vốn tại TNEX Finance, cùng hợp tác đường dài với đối tác chiến lược. Hai là, chuyển nhượng 100% vốn góp tại TNEX Finance cho đối tác có năng lực và kinh nghiệm trong kinh doanh công ty tài chính tiêu dùng. Trên cơ sở đó, MSB sẽ nhận về nguồn vốn và thặng dư từ bán TNEX Finance, hoàn toàn tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính của ngân hàng.

MSB muốn lấn sân sang chứng khoán và quản lý quỹ

Theo MSB, thị trường chứng khoán Việt Nam đang tiếp tục khẳng định vai trò kênh dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế, mặc dù chịu nhiều thách thức, khó khăn từ bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước. Đặc biệt, thị trường chứng khoán hướng đến mục tiêu nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi vào năm 2025, dự báo thu hút khoảng 25 tỷ USD đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

Nhận biết xu hướng và các tiềm năng trên, MSB xác định lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng đầu tư là một trong những trọng tâm phát triển trong tương lai.
Việc đầu tư vào công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ có thể giúp MSB mở rộng sang lĩnh vực ngân hàng đầu tư, cung cấp các dịch vụ tài chính trọn gói như: môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính và phát hành cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư chứng khoán đến quản lý tài sản và đầu tư quỹ, giúp MSB tạo ra mô hình tài chính toàn diện.

Do đó, MSB sẽ lên các phương án, tìm kiếm đối tác thực hiện góp vốn, mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết của công ty mục tiêu mà MSB sẽ tham gia góp vốn, mua cổ phần.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80