Cuộc đua tăng vốn của các ngân hàng "nóng" ngay đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trước áp lực tăng trưởng tín dụng 16% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn hệ thống, ngay từ đầu năm, các ngân hàng liên tục công bố kế hoạch tăng vốn điều lệ, từ chia cổ tức bằng cổ phiếu đến huy động vốn qua phát hành trái phiếu.
aa
Cuộc đua tăng vốn của các ngân hàng "nóng" ngay đầu năm
Ngay từ đầu năm 2025, các ngân hàng đã liên tục công bố kế hoạch tăng vốn điều lệ. Ảnh tư liệu

Ngân hàng ráo riết nâng vốn

Ngày 13/3 vừa qua, Vietcombank chốt danh sách cổ đông để thực hiện chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 49,5%. Số cổ phiếu dự kiến phát hành là 2,77 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức năm 2023, với tổng giá trị hơn 27.666 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất đợt phát hành, vốn điều lệ của Vietcombank tăng từ 55.891 tỷ đồng lên khoảng 83.557 tỷ đồng, dẫn đầu hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng Việt trước thách thức bộ đệm vốn mỏng

“Về vấn đề ngành ngân hàng Việt Nam có bộ đệm vốn mỏng, các ngân hàng có thể sẽ tiếp tục duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng cổ phiếu để đảm bảo nguồn vốn nội bộ đáp ứng tốc độ tăng trưởng tín dụng. Chúng tôi đánh giá triển vọng chung của hệ thống ngân hàng là ổn định, song sẽ tồn tại sự phân hóa rõ rệt. Các ngân hàng thương mại cổ phần lớn và ngân hàng quốc doanh sẽ tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu về lợi nhuận và sức mạnh tài chính, trong khi các ngân hàng nhỏ hơn đối mặt với thách thức về vốn và chất lượng tài sản”- Ông Ivan Tan, Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế tài chính S&P Global Ratings cho biết.

Trong tài liệu trình đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 1/4 tới đây, VietinBank trình cổ đông thông qua phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu tối đa 44,64%, cao kỷ lục trong lịch sử, đưa vốn điều lệ VietinBank từ 53.699,92 tỷ đồng lên 77.670,97 tỷ đồng, với mức tăng chưa từng có gần 24.000 tỷ đồng.

Theo lãnh đạo VietinBank, vốn điều lệ là một trong những yếu tố quan trọng các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế xét đến khi đánh giá, để đưa ra quyết định tăng hoặc giảm thứ hạng tín nhiệm của VietinBank. Vốn điều lệ cũng là cơ sở để xác định giới hạn đầu tư tài sản cố định, đầu tư góp vốn, cơ sở xác định giới hạn cấp tín dụng...

“Do đó, việc tăng vốn điều lệ là điều kiện tiên quyết để đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh thông qua việc tăng giới hạn cấp tín dụng, giới hạn đầu tư..., từ đó, tăng cường khả năng cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế cũng như đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô như định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN)” - lãnh đạo VietinBank phân tích.

Không kém cạnh, BIDV cũng vừa hoàn tất chào bán hơn 123 triệu cổ phiếu, đưa vốn điều lệ lên 70.213 tỷ đồng. Các ngân hàng như: BIDV, ACB, MB… cũng rục rịch kế hoạch tăng vốn trong năm 2025. Bên cạnh việc giữ lại lợi nhuận để phát hành cổ phiếu, các ngân hàng còn đẩy mạnh phát hành trái phiếu dài hạn nhằm tăng vốn cấp 2.

Trước đó, nhiều lần lãnh đạo các ngân hàng quốc doanh như BIDV, Agribank đề xuất Chính phủ cho phép giữ lại lợi nhuận để tăng vốn, tương tự chính sách từng áp dụng giai đoạn trước đây.

Chia sẻ gần đây, ông Phan Đức Tú - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng BIDV nhấn mạnh, đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, nguyên tắc lớn nhất để ngân hàng phục vụ kinh tế đất nước là năng lực tài chính. Với yêu cầu cung ứng vốn cho nền kinh tế lên đến 16% và có thể cao hơn trong thời gian tới, vốn tự có của các ngân hàng thương mại phải tăng lên tương ứng.

“Các ngân hàng lớn khu vực ASEAN đã áp dụng tiêu chuẩn Basel III còn chúng ta chưa áp dụng. Đây là áp lực rất lớn với các ngân hàng thương mại để phục vụ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, nhưng vừa phải đáp ứng được các tiêu chuẩn, yêu cầu theo thông lệ quốc tế. Chúng tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ có chủ trương cho các ngân hàng thương mại giữ lại lợi nhuận để lại để tăng vốn điều lệ như trước đây” - lãnh đạo BIDV bày tỏ.

Trước đó, phát biểu tại buổi làm việc đầu năm, ông Phạm Toàn Vượng - Tổng giám đốc Agribank cũng nhấn mạnh, để dư nợ tăng thêm trên 200.000 tỷ đồng hàng năm, Agribank cần bổ sung thêm 15.000 - 17.000 tỷ đồng vốn tự có. Do đó, lãnh đạo Agribank đề nghị có cơ chế riêng cho các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, trong đó xem xét cấp bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận thực nộp hàng năm của Agribank, tối thiểu 10.000 tỷ đồng/năm, bắt đầu từ năm 2025.

Gỡ lực cản với tăng trưởng tín dụng

Với mục tiêu tín dụng tăng 16% năm nay, các ngân hàng sẽ phải bơm thêm hơn 2,5 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn cần theo kịp tăng trưởng tín dụng, nếu không sẽ tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu tiềm ẩn vẫn là rủi ro đáng quan ngại. Bởi dù vốn điều lệ liên tục được bổ sung, nhưng với yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao như trên để hỗ trợ nền kinh tế, nhiều ngân hàng vẫn đang chịu áp lực lớn về hệ số an toàn vốn (CAR).

Với góc nhìn chuyên sâu từ nhà phân tích hàng đầu của S&P Global Ratings, theo ông Ivan Tan, Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế tài chính, hệ thống ngân hàng Việt Nam dự kiến vẫn sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 12-15% trong trung hạn khoảng 3-5 năm tới.

Tuy nhiên, vấn đề mà ông Ivan nêu ra là làm sao để phân bổ tăng trưởng tín dụng một cách có hiệu quả, dựa trên cơ sở khung quản trị rủi ro và khả năng tăng bộ đệm vốn cho ngành ngân hàng vốn hiện có chỉ số an toàn vốn ở mức khá thấp so với các nước trong khu vực, trong khi nhu cầu tăng trưởng tín dụng lại cao hơn đáng kể.

Rõ ràng, cuộc đua tăng vốn điều lệ không chỉ là xu hướng, mà còn là yêu cầu bắt buộc để các ngân hàng duy trì năng lực tài chính, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings cũng kỳ vọng ngoài Vietcombank, các ngân hàng thương mại nhà nước Big 4 còn lại sẽ sớm được cho phép và tăng vốn điều lệ.

“Chúng tôi cũng kỳ vọng các ngân hàng thương mại tư nhân sẽ không chỉ tăng vốn cổ phần mà tiếp tục tăng cường tăng vốn cấp 2, trong đó, có qua kênh trái phiếu doanh nghiệp với kỳ hạn dài hơn hiện nay để không chỉ tăng hệ số an toàn vốn mà còn đáp ứng tốt hơn các quy định về an toàn vốn như tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn” - ông Quân mong đợi.

Đây là một yếu tố quan trọng để có thể thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ và NHNN về việc hạ lãi suất huy động tiết kiệm, bởi nếu không, các ngân hàng thương mại hạ lãi suất huy động thì tăng trưởng huy động tiền gửi sẽ ở tốc độ thấp hơn, và trong khi năng lực vốn tự có không tăng sẽ làm gia tăng rủi ro hệ thống từ áp lực tăng trưởng tín dụng cao như mục tiêu hiện nay.

Tỷ lệ an toàn CAR của ngân hàng Việt Nam thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực

Tính đến ngày 31/12/2024, tổng vốn điều lệ của 28 ngân hàng thương mại trong nước khoảng 823.500 tỷ đồng, tương ứng 33 tỷ USD, với mức tăng trưởng 15%. Tuy nhiên, thống kê của NHNN và S&P Global Ratings cho thấy, hiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Việt Nam chỉ khoảng 12,4%, thấp hơn nhiều so với mức 20-22% của các ngân hàng trong khu vực, đặt ra bài toán phải tiếp tục tăng vốn để mở rộng tín dụng bền vững.

Tính đến cuối năm 2024, VPBank và Techcombank tiếp tục dẫn trước nhóm big 4 về quy mô vốn điều lệ, lần lượt ở mức trên 79 nghìn tỷ đồng và gần 71 nghìn tỷ đồng. Hai cái tên ghi dấu ấn tăng trưởng vốn điều lệ ấn tượng nhất năm qua là ngân hàng NCB và Techcombank. Techcombank vươn lên mạnh mẽ từ 35.225 tỷ đồng lên 70.658 tỷ đồng, vươn thẳng lên vị trí thứ hai toàn ngành. Còn NCB nâng vốn điều lệ từ 5.600 tỷ đồng lên 11.780 tỷ đồng, với cú bứt tốc này, NCB chính thức góp mặt trong top 20 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống.

Sự bứt phá về vốn điều lệ không chỉ giúp các ngân hàng nâng cao năng lực tài chính mà còn tạo nền tảng để mở rộng tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế trong năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 23:00
Ngân hàng