Cuộc đua tăng vốn của các ngân hàng "nóng" ngay đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trước áp lực tăng trưởng tín dụng 16% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn hệ thống, ngay từ đầu năm, các ngân hàng liên tục công bố kế hoạch tăng vốn điều lệ, từ chia cổ tức bằng cổ phiếu đến huy động vốn qua phát hành trái phiếu.
aa
Cuộc đua tăng vốn của các ngân hàng "nóng" ngay đầu năm
Ngay từ đầu năm 2025, các ngân hàng đã liên tục công bố kế hoạch tăng vốn điều lệ. Ảnh tư liệu

Ngân hàng ráo riết nâng vốn

Ngày 13/3 vừa qua, Vietcombank chốt danh sách cổ đông để thực hiện chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 49,5%. Số cổ phiếu dự kiến phát hành là 2,77 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức năm 2023, với tổng giá trị hơn 27.666 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất đợt phát hành, vốn điều lệ của Vietcombank tăng từ 55.891 tỷ đồng lên khoảng 83.557 tỷ đồng, dẫn đầu hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng Việt trước thách thức bộ đệm vốn mỏng

“Về vấn đề ngành ngân hàng Việt Nam có bộ đệm vốn mỏng, các ngân hàng có thể sẽ tiếp tục duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng cổ phiếu để đảm bảo nguồn vốn nội bộ đáp ứng tốc độ tăng trưởng tín dụng. Chúng tôi đánh giá triển vọng chung của hệ thống ngân hàng là ổn định, song sẽ tồn tại sự phân hóa rõ rệt. Các ngân hàng thương mại cổ phần lớn và ngân hàng quốc doanh sẽ tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu về lợi nhuận và sức mạnh tài chính, trong khi các ngân hàng nhỏ hơn đối mặt với thách thức về vốn và chất lượng tài sản”- Ông Ivan Tan, Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế tài chính S&P Global Ratings cho biết.

Trong tài liệu trình đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 1/4 tới đây, VietinBank trình cổ đông thông qua phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu tối đa 44,64%, cao kỷ lục trong lịch sử, đưa vốn điều lệ VietinBank từ 53.699,92 tỷ đồng lên 77.670,97 tỷ đồng, với mức tăng chưa từng có gần 24.000 tỷ đồng.

Theo lãnh đạo VietinBank, vốn điều lệ là một trong những yếu tố quan trọng các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế xét đến khi đánh giá, để đưa ra quyết định tăng hoặc giảm thứ hạng tín nhiệm của VietinBank. Vốn điều lệ cũng là cơ sở để xác định giới hạn đầu tư tài sản cố định, đầu tư góp vốn, cơ sở xác định giới hạn cấp tín dụng...

“Do đó, việc tăng vốn điều lệ là điều kiện tiên quyết để đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh thông qua việc tăng giới hạn cấp tín dụng, giới hạn đầu tư..., từ đó, tăng cường khả năng cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế cũng như đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô như định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN)” - lãnh đạo VietinBank phân tích.

Không kém cạnh, BIDV cũng vừa hoàn tất chào bán hơn 123 triệu cổ phiếu, đưa vốn điều lệ lên 70.213 tỷ đồng. Các ngân hàng như: BIDV, ACB, MB… cũng rục rịch kế hoạch tăng vốn trong năm 2025. Bên cạnh việc giữ lại lợi nhuận để phát hành cổ phiếu, các ngân hàng còn đẩy mạnh phát hành trái phiếu dài hạn nhằm tăng vốn cấp 2.

Trước đó, nhiều lần lãnh đạo các ngân hàng quốc doanh như BIDV, Agribank đề xuất Chính phủ cho phép giữ lại lợi nhuận để tăng vốn, tương tự chính sách từng áp dụng giai đoạn trước đây.

Chia sẻ gần đây, ông Phan Đức Tú - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng BIDV nhấn mạnh, đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, nguyên tắc lớn nhất để ngân hàng phục vụ kinh tế đất nước là năng lực tài chính. Với yêu cầu cung ứng vốn cho nền kinh tế lên đến 16% và có thể cao hơn trong thời gian tới, vốn tự có của các ngân hàng thương mại phải tăng lên tương ứng.

“Các ngân hàng lớn khu vực ASEAN đã áp dụng tiêu chuẩn Basel III còn chúng ta chưa áp dụng. Đây là áp lực rất lớn với các ngân hàng thương mại để phục vụ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, nhưng vừa phải đáp ứng được các tiêu chuẩn, yêu cầu theo thông lệ quốc tế. Chúng tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ có chủ trương cho các ngân hàng thương mại giữ lại lợi nhuận để lại để tăng vốn điều lệ như trước đây” - lãnh đạo BIDV bày tỏ.

Trước đó, phát biểu tại buổi làm việc đầu năm, ông Phạm Toàn Vượng - Tổng giám đốc Agribank cũng nhấn mạnh, để dư nợ tăng thêm trên 200.000 tỷ đồng hàng năm, Agribank cần bổ sung thêm 15.000 - 17.000 tỷ đồng vốn tự có. Do đó, lãnh đạo Agribank đề nghị có cơ chế riêng cho các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, trong đó xem xét cấp bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận thực nộp hàng năm của Agribank, tối thiểu 10.000 tỷ đồng/năm, bắt đầu từ năm 2025.

Gỡ lực cản với tăng trưởng tín dụng

Với mục tiêu tín dụng tăng 16% năm nay, các ngân hàng sẽ phải bơm thêm hơn 2,5 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn cần theo kịp tăng trưởng tín dụng, nếu không sẽ tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu tiềm ẩn vẫn là rủi ro đáng quan ngại. Bởi dù vốn điều lệ liên tục được bổ sung, nhưng với yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao như trên để hỗ trợ nền kinh tế, nhiều ngân hàng vẫn đang chịu áp lực lớn về hệ số an toàn vốn (CAR).

Với góc nhìn chuyên sâu từ nhà phân tích hàng đầu của S&P Global Ratings, theo ông Ivan Tan, Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế tài chính, hệ thống ngân hàng Việt Nam dự kiến vẫn sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 12-15% trong trung hạn khoảng 3-5 năm tới.

Tuy nhiên, vấn đề mà ông Ivan nêu ra là làm sao để phân bổ tăng trưởng tín dụng một cách có hiệu quả, dựa trên cơ sở khung quản trị rủi ro và khả năng tăng bộ đệm vốn cho ngành ngân hàng vốn hiện có chỉ số an toàn vốn ở mức khá thấp so với các nước trong khu vực, trong khi nhu cầu tăng trưởng tín dụng lại cao hơn đáng kể.

Rõ ràng, cuộc đua tăng vốn điều lệ không chỉ là xu hướng, mà còn là yêu cầu bắt buộc để các ngân hàng duy trì năng lực tài chính, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings cũng kỳ vọng ngoài Vietcombank, các ngân hàng thương mại nhà nước Big 4 còn lại sẽ sớm được cho phép và tăng vốn điều lệ.

“Chúng tôi cũng kỳ vọng các ngân hàng thương mại tư nhân sẽ không chỉ tăng vốn cổ phần mà tiếp tục tăng cường tăng vốn cấp 2, trong đó, có qua kênh trái phiếu doanh nghiệp với kỳ hạn dài hơn hiện nay để không chỉ tăng hệ số an toàn vốn mà còn đáp ứng tốt hơn các quy định về an toàn vốn như tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn” - ông Quân mong đợi.

Đây là một yếu tố quan trọng để có thể thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ và NHNN về việc hạ lãi suất huy động tiết kiệm, bởi nếu không, các ngân hàng thương mại hạ lãi suất huy động thì tăng trưởng huy động tiền gửi sẽ ở tốc độ thấp hơn, và trong khi năng lực vốn tự có không tăng sẽ làm gia tăng rủi ro hệ thống từ áp lực tăng trưởng tín dụng cao như mục tiêu hiện nay.

Tỷ lệ an toàn CAR của ngân hàng Việt Nam thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực

Tính đến ngày 31/12/2024, tổng vốn điều lệ của 28 ngân hàng thương mại trong nước khoảng 823.500 tỷ đồng, tương ứng 33 tỷ USD, với mức tăng trưởng 15%. Tuy nhiên, thống kê của NHNN và S&P Global Ratings cho thấy, hiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Việt Nam chỉ khoảng 12,4%, thấp hơn nhiều so với mức 20-22% của các ngân hàng trong khu vực, đặt ra bài toán phải tiếp tục tăng vốn để mở rộng tín dụng bền vững.

Tính đến cuối năm 2024, VPBank và Techcombank tiếp tục dẫn trước nhóm big 4 về quy mô vốn điều lệ, lần lượt ở mức trên 79 nghìn tỷ đồng và gần 71 nghìn tỷ đồng. Hai cái tên ghi dấu ấn tăng trưởng vốn điều lệ ấn tượng nhất năm qua là ngân hàng NCB và Techcombank. Techcombank vươn lên mạnh mẽ từ 35.225 tỷ đồng lên 70.658 tỷ đồng, vươn thẳng lên vị trí thứ hai toàn ngành. Còn NCB nâng vốn điều lệ từ 5.600 tỷ đồng lên 11.780 tỷ đồng, với cú bứt tốc này, NCB chính thức góp mặt trong top 20 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống.

Sự bứt phá về vốn điều lệ không chỉ giúp các ngân hàng nâng cao năng lực tài chính mà còn tạo nền tảng để mở rộng tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế trong năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 164,000
Hà Nội - PNJ 161,000 164,000
Đà Nẵng - PNJ 161,000 164,000
Miền Tây - PNJ 161,000 164,000
Tây Nguyên - PNJ 161,000 164,000
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 164,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 16,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 16,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 1,638
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 1,639
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 1,623
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 160,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 121,887
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 110,525
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 99,163
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 9,478
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 67,836
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 164
Cập nhật: 16/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18299 18575 19156
CAD 18626 18903 19519
CHF 32873 33258 33895
CNY 0 3828 3920
EUR 30009 30283 31308
GBP 34381 34773 35704
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15094 15681
SGD 20045 20328 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80