Cuộc đua tăng vốn của các ngân hàng "nóng" ngay đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trước áp lực tăng trưởng tín dụng 16% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn hệ thống, ngay từ đầu năm, các ngân hàng liên tục công bố kế hoạch tăng vốn điều lệ, từ chia cổ tức bằng cổ phiếu đến huy động vốn qua phát hành trái phiếu.
aa
Cuộc đua tăng vốn của các ngân hàng "nóng" ngay đầu năm
Ngay từ đầu năm 2025, các ngân hàng đã liên tục công bố kế hoạch tăng vốn điều lệ. Ảnh tư liệu

Ngân hàng ráo riết nâng vốn

Ngày 13/3 vừa qua, Vietcombank chốt danh sách cổ đông để thực hiện chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 49,5%. Số cổ phiếu dự kiến phát hành là 2,77 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức năm 2023, với tổng giá trị hơn 27.666 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất đợt phát hành, vốn điều lệ của Vietcombank tăng từ 55.891 tỷ đồng lên khoảng 83.557 tỷ đồng, dẫn đầu hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng Việt trước thách thức bộ đệm vốn mỏng

“Về vấn đề ngành ngân hàng Việt Nam có bộ đệm vốn mỏng, các ngân hàng có thể sẽ tiếp tục duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng cổ phiếu để đảm bảo nguồn vốn nội bộ đáp ứng tốc độ tăng trưởng tín dụng. Chúng tôi đánh giá triển vọng chung của hệ thống ngân hàng là ổn định, song sẽ tồn tại sự phân hóa rõ rệt. Các ngân hàng thương mại cổ phần lớn và ngân hàng quốc doanh sẽ tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu về lợi nhuận và sức mạnh tài chính, trong khi các ngân hàng nhỏ hơn đối mặt với thách thức về vốn và chất lượng tài sản”- Ông Ivan Tan, Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế tài chính S&P Global Ratings cho biết.

Trong tài liệu trình đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 1/4 tới đây, VietinBank trình cổ đông thông qua phương án chia cổ tức bằng cổ phiếu tối đa 44,64%, cao kỷ lục trong lịch sử, đưa vốn điều lệ VietinBank từ 53.699,92 tỷ đồng lên 77.670,97 tỷ đồng, với mức tăng chưa từng có gần 24.000 tỷ đồng.

Theo lãnh đạo VietinBank, vốn điều lệ là một trong những yếu tố quan trọng các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế xét đến khi đánh giá, để đưa ra quyết định tăng hoặc giảm thứ hạng tín nhiệm của VietinBank. Vốn điều lệ cũng là cơ sở để xác định giới hạn đầu tư tài sản cố định, đầu tư góp vốn, cơ sở xác định giới hạn cấp tín dụng...

“Do đó, việc tăng vốn điều lệ là điều kiện tiên quyết để đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh thông qua việc tăng giới hạn cấp tín dụng, giới hạn đầu tư..., từ đó, tăng cường khả năng cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế cũng như đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô như định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN)” - lãnh đạo VietinBank phân tích.

Không kém cạnh, BIDV cũng vừa hoàn tất chào bán hơn 123 triệu cổ phiếu, đưa vốn điều lệ lên 70.213 tỷ đồng. Các ngân hàng như: BIDV, ACB, MB… cũng rục rịch kế hoạch tăng vốn trong năm 2025. Bên cạnh việc giữ lại lợi nhuận để phát hành cổ phiếu, các ngân hàng còn đẩy mạnh phát hành trái phiếu dài hạn nhằm tăng vốn cấp 2.

Trước đó, nhiều lần lãnh đạo các ngân hàng quốc doanh như BIDV, Agribank đề xuất Chính phủ cho phép giữ lại lợi nhuận để tăng vốn, tương tự chính sách từng áp dụng giai đoạn trước đây.

Chia sẻ gần đây, ông Phan Đức Tú - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng BIDV nhấn mạnh, đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, nguyên tắc lớn nhất để ngân hàng phục vụ kinh tế đất nước là năng lực tài chính. Với yêu cầu cung ứng vốn cho nền kinh tế lên đến 16% và có thể cao hơn trong thời gian tới, vốn tự có của các ngân hàng thương mại phải tăng lên tương ứng.

“Các ngân hàng lớn khu vực ASEAN đã áp dụng tiêu chuẩn Basel III còn chúng ta chưa áp dụng. Đây là áp lực rất lớn với các ngân hàng thương mại để phục vụ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, nhưng vừa phải đáp ứng được các tiêu chuẩn, yêu cầu theo thông lệ quốc tế. Chúng tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ có chủ trương cho các ngân hàng thương mại giữ lại lợi nhuận để lại để tăng vốn điều lệ như trước đây” - lãnh đạo BIDV bày tỏ.

Trước đó, phát biểu tại buổi làm việc đầu năm, ông Phạm Toàn Vượng - Tổng giám đốc Agribank cũng nhấn mạnh, để dư nợ tăng thêm trên 200.000 tỷ đồng hàng năm, Agribank cần bổ sung thêm 15.000 - 17.000 tỷ đồng vốn tự có. Do đó, lãnh đạo Agribank đề nghị có cơ chế riêng cho các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, trong đó xem xét cấp bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận thực nộp hàng năm của Agribank, tối thiểu 10.000 tỷ đồng/năm, bắt đầu từ năm 2025.

Gỡ lực cản với tăng trưởng tín dụng

Với mục tiêu tín dụng tăng 16% năm nay, các ngân hàng sẽ phải bơm thêm hơn 2,5 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn cần theo kịp tăng trưởng tín dụng, nếu không sẽ tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu tiềm ẩn vẫn là rủi ro đáng quan ngại. Bởi dù vốn điều lệ liên tục được bổ sung, nhưng với yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao như trên để hỗ trợ nền kinh tế, nhiều ngân hàng vẫn đang chịu áp lực lớn về hệ số an toàn vốn (CAR).

Với góc nhìn chuyên sâu từ nhà phân tích hàng đầu của S&P Global Ratings, theo ông Ivan Tan, Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế tài chính, hệ thống ngân hàng Việt Nam dự kiến vẫn sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 12-15% trong trung hạn khoảng 3-5 năm tới.

Tuy nhiên, vấn đề mà ông Ivan nêu ra là làm sao để phân bổ tăng trưởng tín dụng một cách có hiệu quả, dựa trên cơ sở khung quản trị rủi ro và khả năng tăng bộ đệm vốn cho ngành ngân hàng vốn hiện có chỉ số an toàn vốn ở mức khá thấp so với các nước trong khu vực, trong khi nhu cầu tăng trưởng tín dụng lại cao hơn đáng kể.

Rõ ràng, cuộc đua tăng vốn điều lệ không chỉ là xu hướng, mà còn là yêu cầu bắt buộc để các ngân hàng duy trì năng lực tài chính, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings cũng kỳ vọng ngoài Vietcombank, các ngân hàng thương mại nhà nước Big 4 còn lại sẽ sớm được cho phép và tăng vốn điều lệ.

“Chúng tôi cũng kỳ vọng các ngân hàng thương mại tư nhân sẽ không chỉ tăng vốn cổ phần mà tiếp tục tăng cường tăng vốn cấp 2, trong đó, có qua kênh trái phiếu doanh nghiệp với kỳ hạn dài hơn hiện nay để không chỉ tăng hệ số an toàn vốn mà còn đáp ứng tốt hơn các quy định về an toàn vốn như tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn” - ông Quân mong đợi.

Đây là một yếu tố quan trọng để có thể thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ và NHNN về việc hạ lãi suất huy động tiết kiệm, bởi nếu không, các ngân hàng thương mại hạ lãi suất huy động thì tăng trưởng huy động tiền gửi sẽ ở tốc độ thấp hơn, và trong khi năng lực vốn tự có không tăng sẽ làm gia tăng rủi ro hệ thống từ áp lực tăng trưởng tín dụng cao như mục tiêu hiện nay.

Tỷ lệ an toàn CAR của ngân hàng Việt Nam thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực

Tính đến ngày 31/12/2024, tổng vốn điều lệ của 28 ngân hàng thương mại trong nước khoảng 823.500 tỷ đồng, tương ứng 33 tỷ USD, với mức tăng trưởng 15%. Tuy nhiên, thống kê của NHNN và S&P Global Ratings cho thấy, hiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Việt Nam chỉ khoảng 12,4%, thấp hơn nhiều so với mức 20-22% của các ngân hàng trong khu vực, đặt ra bài toán phải tiếp tục tăng vốn để mở rộng tín dụng bền vững.

Tính đến cuối năm 2024, VPBank và Techcombank tiếp tục dẫn trước nhóm big 4 về quy mô vốn điều lệ, lần lượt ở mức trên 79 nghìn tỷ đồng và gần 71 nghìn tỷ đồng. Hai cái tên ghi dấu ấn tăng trưởng vốn điều lệ ấn tượng nhất năm qua là ngân hàng NCB và Techcombank. Techcombank vươn lên mạnh mẽ từ 35.225 tỷ đồng lên 70.658 tỷ đồng, vươn thẳng lên vị trí thứ hai toàn ngành. Còn NCB nâng vốn điều lệ từ 5.600 tỷ đồng lên 11.780 tỷ đồng, với cú bứt tốc này, NCB chính thức góp mặt trong top 20 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống.

Sự bứt phá về vốn điều lệ không chỉ giúp các ngân hàng nâng cao năng lực tài chính mà còn tạo nền tảng để mở rộng tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế trong năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng bảo đảm an toàn phải là điều kiện tiên quyết.
OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

(TBTCO) - OCB vừa bổ nhiệm ông Dương Đức Hùng giữ chức Tổng Giám đốc từ ngày 26/10/2026, đồng thời giao ông Chris Shayan phụ trách chuyển đổi số và phát triển kinh doanh bán lẻ. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao được kỳ vọng củng cố năng lực điều hành, tạo động lực tăng trưởng cho ngân hàng.
ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

(TBTCO) - 9 tháng năm 2026, ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 4.301,3 tỷ đồng, tăng 86,9%, hoàn thành gần 96% kế hoạch năm nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh và kiểm soát tốt chi phí. Dư nợ cho vay của ngân hàng tăng 18,2% so với đầu năm, đạt 134.592 tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu vẫn được kiểm soát ở mức 0,8%.
TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

(TBTCO) - Chiều 20/10/2026, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác tài chính trị giá 50 triệu USD với DEG – Định chế tài chính đầu tư phát triển trực thuộc Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Thỏa thuận không chỉ bổ sung nguồn vốn USD trung dài hạn, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn quốc tế cho TPBank, mà còn mở rộng dòng tín dụng xanh và nâng tầm hệ thống quản trị rủi ro Môi trường – Xã hội theo chuẩn mực toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▼30K 14,200 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▼30K 14,200 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▼30K 14,200 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼60K 14,150 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼60K 14,150 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼60K 14,150 ▼60K
Trang sức 99.9 13,430 ▼60K 14,030 ▼60K
Trang sức 99.99 13,440 ▼60K 14,040 ▼60K
Vàng 99.9 12,900 ▼100K
Vàng 99.99 13,050 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1254K 14,202 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1254K 14,203 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 ▼1228K 139 ▼1264K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 ▼1228K 1,391 ▼13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 ▼1210K 138 ▼1255K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 ▼1287K 136,634 ▼1287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 ▼85449K 10,366 ▼94269K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 ▼884K 93,999 ▼884K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 ▼793K 84,338 ▼793K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 ▲63655K 80,612 ▲72475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 ▼542K 57,702 ▼542K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Cập nhật: 23/10/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17596 17869 18448
CAD 17917 18192 18810
CHF 30722 31098 31744
CNY 0 3831 3927
EUR 28297 28514 29597
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3163 3366
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14375 14962
SGD 19677 19958 20530
THB 681 744 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,545 25,665 25,970
USD20 25,515 25,665 25,970
USD1 25,495 25,665 25,970
AUD 17,706 17,856 19,032
EUR 28,339 28,439 30,114
CAD 18,013 18,113 19,431
SGD 19,926 20,076 20,645
JPY 161.64 163.14 168.79
GBP 33,972 34,122 35,204
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,791 0
THB 0 742 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/10/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30