Tác động xung đột tại Trung Đông tới kinh tế Việt Nam: Trong “nguy” có “cơ”

Thảo Miên
(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông có thể làm gia tăng áp lực lạm phát, tỷ giá, đứt gãy chuỗi cung ứng và tác động trực tiếp tới các động lực tăng trưởng của Việt Nam. Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong nguy vẫn có cơ. Xu hướng tái cơ cấu chuỗi thương mại và đầu tư toàn cầu có thể giúp Việt Nam đón nhận làn sóng dịch chuyển sản xuất mới, nếu giữ vững ổn định vĩ mô và chủ động cải cách thể chế.
aa

PV: Trước những diễn biến căng thẳng của xung đột Trung Đông, đặc biệt là cuộc chiến Mỹ, Israel - Iran hiện nay, ông đánh giá thế nào về những tác động của nó đối với kinh tế Việt Nam?

Tác động xung đột tại Trung Đông tới kinh tế Việt Nam: Trong “nguy” có “cơ”
TS. Nguyễn Quốc Việt

TS. Nguyễn Quốc Việt: Xét ở góc độ tiêu cực, đặc biệt trong ngắn hạn, nếu chiến sự kéo dài và leo thang, thậm chí lan rộng ra nhiều quốc gia thay vì chỉ giới hạn trong một khu vực, thì chi phí đầu vào cho sản xuất toàn cầu sẽ gia tăng. Giá các mặt hàng năng lượng như dầu mỏ, than có thể tăng mạnh, từ đó tạo áp lực lên lạm phát và tỷ giá trên phạm vi toàn cầu.

Thứ hai, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng là hiện hữu nếu các tuyến vận tải, logistics quốc tế bị gián đoạn hoặc kiểm soát chặt chẽ hơn. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại và sản xuất của nhiều nền kinh tế.

Thứ ba, xung đột kéo dài có thể làm suy giảm niềm tin và nhu cầu tiêu dùng toàn cầu, khiến tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại. Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia có thể tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô, qua đó tác động đến tỷ giá và dòng vốn đầu tư quốc tế.

Đối với Việt Nam - một nền kinh tế có độ mở cao, trong đó tăng trưởng GDP phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu và các dòng dịch chuyển xuyên biên giới như du lịch - những cú sốc từ bên ngoài sẽ có tác động trực tiếp. Nếu chiến sự kéo dài, hoạt động vận tải hàng không bị ảnh hưởng, du lịch quốc tế suy giảm, thì đây sẽ là một lực cản đáng kể.

Tóm lại, nếu xung đột không sớm được kiểm soát và tiếp tục lan rộng, các động lực tăng trưởng của Việt Nam sẽ chịu tác động tiêu cực, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến triển vọng tăng trưởng kinh tế trong năm 2026, tới mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Chính phủ đã đề ra.

Tuy nhiên, không phải tất cả đều là tiêu cực. Trong nguy vẫn có cơ.

Tác động xung đột tại Trung Đông tới kinh tế Việt Nam: Trong “nguy” có “cơ”
Kinh tế Việt Nam liên tục đạt tăng trưởng cao trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, khó khăn. Ảnh: An Thư

PV: Ông có thể phân tích rõ hơn nhận định này?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Trong rủi ro vẫn luôn có cơ hội. Những biến động địa chính trị hiện nay có thể thúc đẩy quá trình tái cơ cấu chuỗi thương mại và chuỗi đầu tư toàn cầu theo hướng tìm kiếm các điểm đến an toàn hơn. Trước đây, xu hướng dịch chuyển đã diễn ra nhằm giảm rủi ro phụ thuộc vào một số thị trường lớn như Trung Quốc. Nay, khi bất ổn lan rộng từ Trung Đông sang một phần Nam Á, thậm chí xuất hiện thêm các điểm nóng mới, thì xu hướng đa dạng hóa và phân tán rủi ro càng rõ nét hơn.

Trong bối cảnh đó, một số ngành hàng mà các quốc gia Trung Đông hoặc Nam Á từng cạnh tranh mạnh với Việt Nam - như dệt may, da giày - có thể ghi nhận sự dịch chuyển đơn hàng trở lại. Dù tổng cầu thế giới có thể thu hẹp do lo ngại chiến tranh, nhưng “miếng bánh” thị trường sẽ được phân bổ lại, và các quốc gia được đánh giá là ổn định, an toàn có khả năng giành được thị phần lớn hơn.

Việt Nam, với lợi thế ổn định chính trị, an ninh và đối ngoại cân bằng, có thể trở thành điểm đến của làn sóng dịch chuyển sản xuất và đầu tư mới. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này, cần có sự chuẩn bị chủ động, đặc biệt từ phía doanh nghiệp. Các đơn hàng dịch chuyển có thể không còn thuần túy là sản xuất khối lượng lớn như trước, mà mang tính đặc thù cao hơn, yêu cầu tiêu chuẩn riêng biệt nhưng đổi lại có giá trị gia tăng tốt hơn.

Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, kinh tế Việt Nam đã liên tục đạt tăng trưởng cao trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, khó khăn. Ổn định vĩ mô luôn được duy trì và cân đối thể hiện sức chống chịu tương đối tốt của kinh tế Việt Nam. Đây cũng là “lớp đệm” giúp Việt Nam tiếp tục chống chịu với những diễn biến phức tạp từ các cuộc xung đột địa chính trị căng thẳng hiện nay.

Chẳng hạn, thị trường Halal phục vụ các nước Hồi giáo là một ví dụ. Nếu chuỗi cung ứng tại Trung Đông bị gián đoạn và Việt Nam phát triển được hệ sinh thái sản phẩm Halal đạt chuẩn, đây có thể trở thành một phân khúc tiềm năng. Những cơ hội như vậy có thể không tạo ra kim ngạch đột biến trong ngắn hạn, nhưng mở ra các thị trường ngách có giá trị, nếu doanh nghiệp đủ linh hoạt để thích ứng.

Về đầu tư, xu hướng dịch chuyển cũng sẽ chịu tác động bởi cạnh tranh địa chính trị giữa các cường quốc. Nếu các nền kinh tế lớn tiếp tục áp dụng những biện pháp cứng rắn nhằm bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng, thì dòng vốn sẽ ưu tiên những quốc gia được coi là “thân thiện”, ổn định và ít rủi ro địa chính trị. Việc tái phân bổ sản xuất và vốn đầu tư sang những nền kinh tế ổn định như Việt Nam là kịch bản hoàn toàn có thể xảy ra. Cần chuẩn bị tốt về thể chế, hạ tầng và năng lực doanh nghiệp để đón nhận và tận dụng hiệu quả làn sóng dịch chuyển đó.

PV: Vậy theo ông, đâu là những giải pháp để Việt Nam có thể ứng phó với những tác động tiêu cực từ tình hình bất ổn tại Trung Đông mà vẫn đảm bảo mục tiêu tăng trưởng 2026?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Về các giải pháp trước mắt, theo tôi, điều quan trọng nhất vẫn là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Khi xuất hiện những biến động lớn từ bên ngoài, chẳng hạn giá nguyên, nhiên vật liệu tăng mạnh, Việt Nam có thể tiếp tục vận dụng các giải pháp từng triển khai trong giai đoạn xung đột Nga - Ukraine và đứt gãy nguồn cung toàn cầu.

Thực tế cho thấy, các biện pháp khi đó khá phù hợp, vừa bảo đảm an sinh xã hội, duy trì sự thông suốt của chuỗi logistics, vừa góp phần giảm áp lực lạm phát. Cụ thể là các chính sách miễn, giãn, hoãn và giảm thuế, phí, lệ phí, đặc biệt đối với xăng dầu và các nguyên, phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuất và vận tải. Những giải pháp này giúp giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và người dân, tạo điều kiện duy trì hoạt động sản xuất - kinh doanh bình thường, tránh phát sinh thêm gánh nặng trong bối cảnh khó khăn. Giữ ổn định vĩ mô là nền tảng cốt lõi, và các công cụ tài khóa linh hoạt như trên chính là giải pháp trọng tâm để bảo đảm ổn định kinh tế trong giai đoạn biến động.

Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu biến động hoặc nhu cầu từ các thị trường truyền thống suy giảm, Việt Nam cần chủ động có các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm và khai thác những thị trường ngách. Tuy nhiên, đây thường là những mặt hàng có tính đặc thù, đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp phải linh hoạt trong điều hành và sản xuất, đồng thời nhanh nhạy nắm bắt cơ hội mới.

Bên cạnh việc giữ ổn định vĩ mô và hỗ trợ phục hồi sản xuất, tạo “bộ đệm” để hoạt động sản xuất - kinh doanh diễn ra liên tục, cần quan tâm đến các nhóm lao động dễ bị tổn thương. Nếu bất ổn khiến một bộ phận người lao động bị ảnh hưởng thu nhập, Chính phủ nên cân nhắc các giải pháp tài khóa phù hợp để hỗ trợ nhóm thu nhập thấp.

Song song với đó, cần theo dõi sát diễn biến tình hình, xây dựng các kịch bản ứng phó với những phát sinh như biến động tỷ giá hay lạm phát. Trong trường hợp cần thiết, phải có sự phối hợp hài hòa giữa các chính sách, đặc biệt là chính sách tiền tệ, để kiểm soát và hạn chế tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài.

Về dài hạn, điều quan trọng là Việt Nam phải tiếp tục khẳng định và củng cố nền tảng ổn định vĩ mô. Sự ổn định không chỉ về kinh tế mà còn về xã hội và chính trị sẽ là những “điểm cộng” lớn đối với môi trường đầu tư, kinh doanh và sản xuất. Đây là yếu tố then chốt để tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất định.

Thứ hai, để đón được các làn sóng đầu tư mới, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách chính sách và thể chế, qua đó đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn ngày càng cao của chuỗi sản xuất, thương mại và đầu tư toàn cầu, giúp nền kinh tế tăng khả năng thích ứng và tham gia sâu hơn vào các mạng lưới giá trị quốc tế.

Thứ ba, cần kết hợp chặt chẽ với chiến lược đối ngoại. Một mặt, Việt Nam tiếp tục khẳng định hình ảnh là điểm đến an toàn, thân thiện và ổn định; mặt khác, thể hiện vai trò, trách nhiệm toàn cầu một cách chủ động hơn trong việc tham gia giải quyết các vấn đề chung của thế giới. Theo tôi, những động thái ngoại giao gần đây, trong đó có việc Tổng Bí thư Tô Lâm tham gia Hội đồng Hòa bình thế giới góp phần củng cố niềm tin và tăng sức hấp dẫn đối với các dòng vốn từ các đối tác chiến lược, lâu dài của Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thảo Miên

Đọc thêm

Chất lượng tài sản trở thành “chìa khóa” hút vốn bất động sản

Chất lượng tài sản trở thành “chìa khóa” hút vốn bất động sản

(TBTCO) - Thị trường bất động sản đang bước vào giai đoạn phục hồi theo hướng chọn lọc, khi dòng vốn ngày càng ưu tiên những tài sản có pháp lý hoàn chỉnh, khả năng tạo dòng tiền và chất lượng vận hành tốt. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lê Dung - Trưởng Bộ phận Tư vấn Đầu tư, Savills Hà Nội cho rằng, để nâng cao khả năng tiếp cận vốn, doanh nghiệp cần chú trọng cấu trúc vốn, minh bạch quản trị và tích hợp ESG ngay từ quá trình phát triển tài sản.
Quản trị công ty phải trở thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Quản trị công ty phải trở thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

(TBTCO) - Khi thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào giai đoạn mới sau nâng hạng, chất lượng quản trị công ty ngày càng được các nhà đầu tư, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc tế quan tâm. Trao đổi với phóng viên, bà Hà Thu Thanh - Chủ tịch Viện Thành viên Hội đồng quản trị Việt Nam (VIOD) cho rằng, doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức, coi quản trị công ty là một năng lực cạnh tranh thay vì chỉ là hệ thống để đáp ứng yêu cầu tuân thủ.
Giám sát hiệu quả là nền tảng củng cố niềm tin sau nâng hạng

Giám sát hiệu quả là nền tảng củng cố niềm tin sau nâng hạng

(TBTCO) - Theo ông Vũ Duy Khánh - Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán Smart Invest (AAS), thị trường sau nâng hạng đòi hỏi năng lực giám sát tương xứng với quy mô và mức độ phức tạp của giao dịch. Minh bạch thông tin và chất lượng vận hành cũng cần tiếp tục được nâng cao.
Nguyên nhân nào dẫn đến số lượng lớn người nộp thuế ở trạng thái 03, 06?

Nguyên nhân nào dẫn đến số lượng lớn người nộp thuế ở trạng thái 03, 06?

(TBTCO) - Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) và không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh (trạng thái 06)? Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Huy - Phó ban Nghiệp vụ (Cục Thuế) để làm rõ vấn đề này.
Mở dư địa thu hút dòng vốn chất lượng cao từ Pháp

Mở dư địa thu hút dòng vốn chất lượng cao từ Pháp

(TBTCO) - Với thế mạnh về hạ tầng, năng lượng và dịch vụ kỹ thuật cao, doanh nghiệp Pháp có nhiều dư địa mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Theo TS. Bùi Duy Tùng - Giảng viên cấp cao ngành Kinh tế, Đại học RMIT, hoàn thiện thể chế, phát triển nhân lực và tiến trình phê chuẩn EVIPA sẽ là những yếu tố quan trọng củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Doanh nghiệp muốn khỏe thì phải nâng cao năng lực nội sinh

Doanh nghiệp muốn khỏe thì phải nâng cao năng lực nội sinh

(TBTCO) - TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội (HANOISME) nhấn mạnh, chính sách giảm thuế, phí thời gian qua đã giúp doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tăng cơ hội phục hồi và phát triển.
Chiến dịch làm sạch mã số thuế: Giúp hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Chiến dịch làm sạch mã số thuế: Giúp hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

(TBTCO) - Từ tháng 7/2026, ngành Thuế triển khai chiến dịch cao điểm làm sạch mã số thuế doanh nghiệp nhằm rà soát, chuẩn hóa dữ liệu quản lý thuế. Thông qua chiến dịch, đã có hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư vừa có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Thu - Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) để giúp cộng đồng doanh nghiệp và bạn đọc hiểu rõ hơn về mục đích, ý nghĩa cũng như các giải pháp hỗ trợ của cơ quan thuế trong chiến dịch này.
Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

(TBTCO) - Để tài sản số thực sự trở thành nguồn lực cho nền kinh tế, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý, phân loại tài sản theo đúng bản chất, đồng thời chuẩn hóa tài sản cơ sở, dữ liệu và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Đây là những nội dung được bà Nguyễn Vân Hiền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều