Từ “công xưởng” đến mắt xích công nghệ: Việt Nam đang ở đâu?

Thảo Miên
(TBTCO) - Hàng loạt dự án tỷ USD trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử, AI, năng lượng và vật liệu công nghệ cao đổ vào Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026 cho thấy sức hút ngày càng lớn của nền kinh tế với dòng vốn FDI công nghệ cao. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn ở “điểm trung gian” chuỗi giá trị.
aa

FDI công nghệ cao tăng tốc vào Việt Nam

Không chỉ duy trì đà tăng trưởng về quy mô vốn đầu tư, chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam cũng đang có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn. Điểm sáng của 4 tháng đầu năm là Việt Nam tiếp tục thu hút được dự án công nghệ cao quy mô lớn, qua đó cho thấy xu hướng nâng dần chất lượng dòng vốn FDI, là minh chứng cho định hướng thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên công nghệ tiên tiến, công nghệ nền tảng, giá trị gia tăng cao và khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước.

Từ “công xưởng” đến mắt xích công nghệ: Việt Nam đang ở đâu?
Việt Nam đang cho thấy là một điểm đến rất phù hợp với các nhà đầu tư nước ngoài. (Trong ảnh: Sản xuất linh kiện điện tử tại nhà máy Panasonic Việt Nam). Ảnh: Đức Thanh

Một số dự án tiêu biểu có thể kể đến như: Dự án Samsung Electro-mechanics Việt Nam số 2 của Công ty TNHH Samsung (Hàn Quốc) về sản xuất bảng mạch điện tử cao cấp với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 1,2 tỷ USD tại tỉnh Thái Nguyên; dự án nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập (Hàn Quốc) về sản xuất điện từ khí thiên nhiên hóa lỏng, lưu trữ khí thiên nhiên hóa lỏng và các mục tiêu khác theo quy hoạch năng lượng quốc gia với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 2,2 tỷ USD tại tỉnh Nghệ An; dự án sản xuất cực âm than chì nhân tạo Việt Nam của công ty Posco Future M (Hàn Quốc) với mục tiêu sản xuất cực âm than chì nhân tạo cho pin lithium-io có tổng vốn đăng ký đạt trên 282 triệu USD tại tỉnh Thái Nguyên; Nhà máy điện tử BYD Việt Nam (Hong Kong) tại tỉnh Phú Thọ tăng vốn 479,8 triệu USD nâng tổng vốn đầu tư lên 890,8 triệu USD,… Kết quả trên cho thấy, Việt Nam vẫn duy trì được sức hút đối với dòng vốn mới, nhất là trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghệ cao và năng lượng. Điều này cũng cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng và Việt Nam đang là sự lựa chọn của dòng tái cơ cấu vốn FDI quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao.

Đánh giá về việc thu hút FDI các dự án công nghệ cao vào Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, TS. Đặng Thảo Quyên - Phó chủ nhiệm nhóm Bộ môn Quản trị, kiêm Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Kinh doanh quốc tế, Đại học RMIT Việt Nam nhận định, các dự án liên quan đến vật liệu pin, điện tử, trung tâm dữ liệu hay AI phản ánh một sự dịch chuyển rõ rệt của dòng vốn. Đồng thời, các công ty như Qualcomm mở rộng hoạt động R&D tại Việt Nam cho thấy Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong “bản đồ công nghệ” của các tập đoàn lớn. Việc ngành chế biến chế tạo vẫn chiếm ưu thế, nhưng sự gia tăng vốn vào năng lượng và ICT phản ánh sự chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng. So với các kỳ 2025, vốn đăng ký mới tăng vọt cho thấy nhà đầu tư chọn Việt Nam cho “đầu tư thật”, không chỉ lắp ráp.

Tuy nhiên, theo vị chuyên gia của Đại học RMIT, việc FDI công nghệ cao vào Việt Nam cần phân biệt ở ba cấp độ. Một là, sản xuất công nghệ cao (high-tech manufacturing) - Việt Nam đã đạt được. Hai là, tham gia hệ sinh thái công nghệ (eco-system integration) - đang hình thành. Ba là, làm chủ công nghệ (innovation leadership) - Việt Nam chưa đạt được. Đa số dự án hiện nay vẫn nằm ở cấp độ thứ nhất và một phần của cấp độ thứ hai.

“Việt Nam được lựa chọn vì vị trí địa chính trị trung lập và chi phí cạnh tranh nhưng lại chưa được lựa chọn cho các khâu cốt lõi như thiết kế, R&D, hay chuỗi cung ứng cấp cao. Điều này phản ánh vị trí hiện tại của Việt Nam là “trung tâm sản xuất chiến lược trong một hệ sinh thái khu vực do các nền kinh tế khác (Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ) kiểm soát công nghệ”. Nói cách khác, Việt Nam đang ở điểm trung gian của chuỗi giá trị - một vị trí rất quan trọng, nhưng cũng dễ bị thay thế nếu không nâng cấp” - TS. Quyên nhận định.

Nâng năng lực nội sinh để không chỉ là “trung tâm sản xuất chiến lược”

Theo các chuyên gia kinh tế, trong thời gian tới, Việt Nam cần thu hút có chọn lọc các dự án FDI, đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau, ưu đãi theo kết quả. Đây cũng là nội dung tại Kết luận số 18 Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (Kết luận số 18) đã được ban hành.

Chia sẻ với phóng viên, ông Nguyễn Văn Toàn - Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp FDI (VAFIE) cho biết, Nghị quyết 50-NQ/TW và Kết luận số 18 đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển công nghệ cao, công nghệ nguồn để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là Việt Nam phải xây dựng được một hệ thống doanh nghiệp trong nước đủ mạnh để hợp tác hiệu quả với các nhà đầu tư nước ngoài.

Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong những điểm đến của quá trình tái cấu trúc dòng vốn FDI

Theo ông Nguyễn Văn Toàn, xét về cạnh tranh về công nghệ và an toàn chuỗi cung ứng, Việt Nam đang cho thấy là một điểm đến rất phù hợp với các nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong những điểm đến của quá trình tái cấu trúc dòng vốn FDI trên toàn cầu theo hướng tích tụ hơn nữa những dự án lớn, dự án công nghệ cao, dự án xanh và tham gia ngày càng sâu hơn vào chuỗi cung ứng thế giới.

Ông cho rằng, nếu các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi cung ứng, làm công nghiệp hỗ trợ hoặc đảm nhận các phân khúc công nghệ cao với chi phí cạnh tranh, thì cả phía Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài đều được hưởng lợi. Đây cũng chính là yếu tố giúp tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thể bắt tay bình đẳng với các nhà đầu tư nước ngoài và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của họ. Vì vậy, khi triển khai các dự án quy mô lớn tại Việt Nam, nhiều tập đoàn nước ngoài thường kéo theo hệ sinh thái doanh nghiệp vệ tinh của họ vào cùng. Theo ông Toàn, việc này không phải không tích cực, nhưng sẽ tốt hơn rất nhiều nếu các doanh nghiệp vệ tinh đó là doanh nghiệp Việt Nam. “Đó cũng là điều chúng ta cần hướng tới trong quá trình hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài” - ông nhấn mạnh.

Để thu hút trong một FDI thế hệ mới công nghệ cao thì Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào lợi thế chi phí thấp mà phải nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Doanh nghiệp Việt Nam cần phải chuyển từ tư duy tham gia sang nâng vị thế trong chuỗi giá trị.

Theo chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong, về năng lực nội sinh, bên cạnh những vấn đề khác liên quan tới quản trị, bảo hộ của nhà nước cũng như các dịch vụ hỗ trợ khác, có 2 yếu tố rất quan trọng là khả năng làm chủ công nghệ và nhân lực chất lượng cao để đáp ứng. Việc ứng dụng công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược phát triển dài hạn, năng lực tài chính và khả năng đổi mới, thích ứng. Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là nhân lực, bởi nếu thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao thì các lợi thế khác về nội sinh sẽ khó phát huy hiệu quả.

Ông cho rằng, Việt Nam đang đi đúng hướng khi thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới, trong đó nhân lực chất lượng cao đóng vai trò then chốt. Đây không chỉ là đội ngũ có chuyên môn sâu mà còn phải có ngoại ngữ, công nghệ, kiến thức pháp luật, tư duy đa ngành và khả năng thích ứng linh hoạt. Trong bối cảnh số hóa, AI và robot hóa phát triển nhanh, lao động giản đơn sẽ bị thay thế mạnh mẽ, kéo theo áp lực lớn về việc làm và an sinh xã hội. Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ lao động có khả năng chuyển đổi, thích ứng và tái hội nhập là yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam hiện nay.

Quan trọng hơn, theo TS. Đặng Thảo Quyên, trong bối cảnh Mỹ siết kiểm soát công nghệ đối với Trung Quốc và hình thành các “khối công nghệ”, việc Việt Nam thu hút FDI công nghệ cao còn phụ thuộc vào mức độ tin cậy về thể chế, bảo vệ dữ liệu và sở hữu trí tuệ.

“Việt Nam đang có cơ hội bước vào chuỗi công nghệ, nhưng sẽ không tự động chuyển hóa thành năng lực công nghệ nếu không có chính sách nội sinh hóa. Thách thức vẫn là nhân lực R&D và chuyển giao công nghệ. Cần cơ chế ưu đãi có điều kiện gắn với nội địa hóa và R&D” - TS. Đặng Thảo Quyên nhấn mạnh.

Thảo Miên

Đọc thêm

Đầu tư hạ tầng logistics, tăng năng lực cạnh tranh chuỗi cung ứng

Đầu tư hạ tầng logistics, tăng năng lực cạnh tranh chuỗi cung ứng

(TBTCO) - Việt Nam đang đứng trước cơ hội tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành lợi thế cạnh tranh, việc phát triển hạ tầng logistics hiện đại, xanh và số được xem là yêu cầu cấp thiết.
Doanh nghiệp mới tại Gia Lai tăng cả về số lượng và quy mô vốn

Doanh nghiệp mới tại Gia Lai tăng cả về số lượng và quy mô vốn

(TBTCO) - Từ đầu năm đến ngày 22/7, Gia Lai có 2.292 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 35.884 tỷ đồng, tăng khoảng 196% so với cùng kỳ năm 2025. Cùng kỳ, số doanh nghiệp thành lập mới cũng tăng khoảng 36%, đạt 32,74% chỉ tiêu phát triển doanh nghiệp của cả năm.
Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

(TBTCO) - Để đón đầu sự phát triển của thị trường kinh tế tầm thấp được dự báo đạt tỷ USD, Đà Nẵng sẵn sàng rót ngân sách, kiến tạo bệ phóng hạ tầng, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách. Đây là nỗ lực nhằm tạo động lực phát triển mới cho địa phương.
Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, các động lực chính cùng vận hành, sức chống chịu được cải thiện. Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng tốc, các cân đối về lạm phát, tỷ giá và lãi suất trở nên nhạy cảm và bài toán ổn định vĩ mô cũng khó hơn.
Tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế, đẩy mạnh cải cách thể chế

Tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế, đẩy mạnh cải cách thể chế

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Bùi Minh Giáp - Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam không nên lựa chọn giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô, mà cần theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế và đẩy mạnh cải cách thể chế. Việt Nam vẫn có thể theo đuổi tăng trưởng cao mà không phải đánh đổi ổn định vĩ mô, nếu lựa chọn đúng chính sách.
Mở rộng kênh vốn, nâng kỷ luật thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Mở rộng kênh vốn, nâng kỷ luật thị trường trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Nghị định số 200/2026/NĐ-CP mở rộng hành lang huy động và sử dụng vốn cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao yêu cầu về quản trị dòng tiền, công bố thông tin, giám sát sau phát hành và bảo vệ nhà đầu tư. Những quy định mới được cơ quan quản lý, công ty chứng khoán và doanh nghiệp kỳ vọng sẽ góp phần khơi thông nguồn vốn trung, dài hạn, từng bước củng cố niềm tin trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.
Bước tiến mới trong minh bạch hóa nền kinh tế Việt Nam

Bước tiến mới trong minh bạch hóa nền kinh tế Việt Nam

(TBTCO) - Minh bạch chủ sở hữu hưởng lợi không chỉ là yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, mà còn là đòi hỏi nội tại của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. Quy định chính thức đưa thông tin chủ sở hữu hưởng lợi vào hệ thống đăng ký doanh nghiệp từ ngày 1/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý, góp phần nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư, tăng hiệu quả quản trị doanh nghiệp và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền, quản lý thuế cũng như bảo đảm tính liêm chính của thị trường.
Phạt tới 200 triệu đồng với vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

Phạt tới 200 triệu đồng với vi phạm hành chính về tài sản mã hóa

(TBTCO) - Từ ngày 1/9/2026, chào bán, phát hành tài sản mã hóa cho đối tượng không đúng quy định hoặc cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép sẽ bị phạt tới 200 triệu đồng, theo quy định tại Nghị định số 284/2026/NĐ-CP.
Xem thêm