Từ “công xưởng” đến mắt xích công nghệ: Việt Nam đang ở đâu?
FDI công nghệ cao tăng tốc vào Việt Nam
Không chỉ duy trì đà tăng trưởng về quy mô vốn đầu tư, chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam cũng đang có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn. Điểm sáng của 4 tháng đầu năm là Việt Nam tiếp tục thu hút được dự án công nghệ cao quy mô lớn, qua đó cho thấy xu hướng nâng dần chất lượng dòng vốn FDI, là minh chứng cho định hướng thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên công nghệ tiên tiến, công nghệ nền tảng, giá trị gia tăng cao và khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước.
![]() |
| Việt Nam đang cho thấy là một điểm đến rất phù hợp với các nhà đầu tư nước ngoài. (Trong ảnh: Sản xuất linh kiện điện tử tại nhà máy Panasonic Việt Nam). Ảnh: Đức Thanh |
Một số dự án tiêu biểu có thể kể đến như: Dự án Samsung Electro-mechanics Việt Nam số 2 của Công ty TNHH Samsung (Hàn Quốc) về sản xuất bảng mạch điện tử cao cấp với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 1,2 tỷ USD tại tỉnh Thái Nguyên; dự án nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập (Hàn Quốc) về sản xuất điện từ khí thiên nhiên hóa lỏng, lưu trữ khí thiên nhiên hóa lỏng và các mục tiêu khác theo quy hoạch năng lượng quốc gia với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 2,2 tỷ USD tại tỉnh Nghệ An; dự án sản xuất cực âm than chì nhân tạo Việt Nam của công ty Posco Future M (Hàn Quốc) với mục tiêu sản xuất cực âm than chì nhân tạo cho pin lithium-io có tổng vốn đăng ký đạt trên 282 triệu USD tại tỉnh Thái Nguyên; Nhà máy điện tử BYD Việt Nam (Hong Kong) tại tỉnh Phú Thọ tăng vốn 479,8 triệu USD nâng tổng vốn đầu tư lên 890,8 triệu USD,… Kết quả trên cho thấy, Việt Nam vẫn duy trì được sức hút đối với dòng vốn mới, nhất là trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghệ cao và năng lượng. Điều này cũng cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng và Việt Nam đang là sự lựa chọn của dòng tái cơ cấu vốn FDI quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao.
Đánh giá về việc thu hút FDI các dự án công nghệ cao vào Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, TS. Đặng Thảo Quyên - Phó chủ nhiệm nhóm Bộ môn Quản trị, kiêm Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Kinh doanh quốc tế, Đại học RMIT Việt Nam nhận định, các dự án liên quan đến vật liệu pin, điện tử, trung tâm dữ liệu hay AI phản ánh một sự dịch chuyển rõ rệt của dòng vốn. Đồng thời, các công ty như Qualcomm mở rộng hoạt động R&D tại Việt Nam cho thấy Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong “bản đồ công nghệ” của các tập đoàn lớn. Việc ngành chế biến chế tạo vẫn chiếm ưu thế, nhưng sự gia tăng vốn vào năng lượng và ICT phản ánh sự chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng. So với các kỳ 2025, vốn đăng ký mới tăng vọt cho thấy nhà đầu tư chọn Việt Nam cho “đầu tư thật”, không chỉ lắp ráp.
Tuy nhiên, theo vị chuyên gia của Đại học RMIT, việc FDI công nghệ cao vào Việt Nam cần phân biệt ở ba cấp độ. Một là, sản xuất công nghệ cao (high-tech manufacturing) - Việt Nam đã đạt được. Hai là, tham gia hệ sinh thái công nghệ (eco-system integration) - đang hình thành. Ba là, làm chủ công nghệ (innovation leadership) - Việt Nam chưa đạt được. Đa số dự án hiện nay vẫn nằm ở cấp độ thứ nhất và một phần của cấp độ thứ hai.
“Việt Nam được lựa chọn vì vị trí địa chính trị trung lập và chi phí cạnh tranh nhưng lại chưa được lựa chọn cho các khâu cốt lõi như thiết kế, R&D, hay chuỗi cung ứng cấp cao. Điều này phản ánh vị trí hiện tại của Việt Nam là “trung tâm sản xuất chiến lược trong một hệ sinh thái khu vực do các nền kinh tế khác (Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ) kiểm soát công nghệ”. Nói cách khác, Việt Nam đang ở điểm trung gian của chuỗi giá trị - một vị trí rất quan trọng, nhưng cũng dễ bị thay thế nếu không nâng cấp” - TS. Quyên nhận định.
Nâng năng lực nội sinh để không chỉ là “trung tâm sản xuất chiến lược”
Theo các chuyên gia kinh tế, trong thời gian tới, Việt Nam cần thu hút có chọn lọc các dự án FDI, đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau, ưu đãi theo kết quả. Đây cũng là nội dung tại Kết luận số 18 Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (Kết luận số 18) đã được ban hành.
Chia sẻ với phóng viên, ông Nguyễn Văn Toàn - Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp FDI (VAFIE) cho biết, Nghị quyết 50-NQ/TW và Kết luận số 18 đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển công nghệ cao, công nghệ nguồn để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là Việt Nam phải xây dựng được một hệ thống doanh nghiệp trong nước đủ mạnh để hợp tác hiệu quả với các nhà đầu tư nước ngoài.
Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong những điểm đến của quá trình tái cấu trúc dòng vốn FDITheo ông Nguyễn Văn Toàn, xét về cạnh tranh về công nghệ và an toàn chuỗi cung ứng, Việt Nam đang cho thấy là một điểm đến rất phù hợp với các nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong những điểm đến của quá trình tái cấu trúc dòng vốn FDI trên toàn cầu theo hướng tích tụ hơn nữa những dự án lớn, dự án công nghệ cao, dự án xanh và tham gia ngày càng sâu hơn vào chuỗi cung ứng thế giới. |
Ông cho rằng, nếu các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi cung ứng, làm công nghiệp hỗ trợ hoặc đảm nhận các phân khúc công nghệ cao với chi phí cạnh tranh, thì cả phía Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài đều được hưởng lợi. Đây cũng chính là yếu tố giúp tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam.
Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thể bắt tay bình đẳng với các nhà đầu tư nước ngoài và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của họ. Vì vậy, khi triển khai các dự án quy mô lớn tại Việt Nam, nhiều tập đoàn nước ngoài thường kéo theo hệ sinh thái doanh nghiệp vệ tinh của họ vào cùng. Theo ông Toàn, việc này không phải không tích cực, nhưng sẽ tốt hơn rất nhiều nếu các doanh nghiệp vệ tinh đó là doanh nghiệp Việt Nam. “Đó cũng là điều chúng ta cần hướng tới trong quá trình hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài” - ông nhấn mạnh.
Để thu hút trong một FDI thế hệ mới công nghệ cao thì Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào lợi thế chi phí thấp mà phải nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Doanh nghiệp Việt Nam cần phải chuyển từ tư duy tham gia sang nâng vị thế trong chuỗi giá trị.
Theo chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong, về năng lực nội sinh, bên cạnh những vấn đề khác liên quan tới quản trị, bảo hộ của nhà nước cũng như các dịch vụ hỗ trợ khác, có 2 yếu tố rất quan trọng là khả năng làm chủ công nghệ và nhân lực chất lượng cao để đáp ứng. Việc ứng dụng công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược phát triển dài hạn, năng lực tài chính và khả năng đổi mới, thích ứng. Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là nhân lực, bởi nếu thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao thì các lợi thế khác về nội sinh sẽ khó phát huy hiệu quả.
Ông cho rằng, Việt Nam đang đi đúng hướng khi thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới, trong đó nhân lực chất lượng cao đóng vai trò then chốt. Đây không chỉ là đội ngũ có chuyên môn sâu mà còn phải có ngoại ngữ, công nghệ, kiến thức pháp luật, tư duy đa ngành và khả năng thích ứng linh hoạt. Trong bối cảnh số hóa, AI và robot hóa phát triển nhanh, lao động giản đơn sẽ bị thay thế mạnh mẽ, kéo theo áp lực lớn về việc làm và an sinh xã hội. Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ lao động có khả năng chuyển đổi, thích ứng và tái hội nhập là yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam hiện nay.
Quan trọng hơn, theo TS. Đặng Thảo Quyên, trong bối cảnh Mỹ siết kiểm soát công nghệ đối với Trung Quốc và hình thành các “khối công nghệ”, việc Việt Nam thu hút FDI công nghệ cao còn phụ thuộc vào mức độ tin cậy về thể chế, bảo vệ dữ liệu và sở hữu trí tuệ.
“Việt Nam đang có cơ hội bước vào chuỗi công nghệ, nhưng sẽ không tự động chuyển hóa thành năng lực công nghệ nếu không có chính sách nội sinh hóa. Thách thức vẫn là nhân lực R&D và chuyển giao công nghệ. Cần cơ chế ưu đãi có điều kiện gắn với nội địa hóa và R&D” - TS. Đặng Thảo Quyên nhấn mạnh.
Dành cho bạn
Đọc thêm
Thu hút FDI xanh và công nghệ cao, tạo đà tăng trưởng bền vững
TP. Hồ Chí Minh trao quyền mạnh hơn cho cấp cơ sở để tạo động lực tăng trưởng
FDI dịch chuyển sang công nghệ cao, Việt Nam bước vào chu kỳ tăng trưởng mới
Kinh tế tư nhân trước cơ hội trở thành “đầu kéo” đổi mới mô hình tăng trưởng
Việt Nam và Thái Lan sẽ đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực tiềm năng
Việt Nam và Singapore mở rộng hợp tác thương mại và đầu tư

