Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.
aa

PV: Bà đánh giá như thế nào về sự phát triển của thị trường quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện sau gần 10 năm triển khai Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện (Nghị định 88), đặc biệt trong bối cảnh dư địa tăng trưởng còn rất lớn nhưng quy mô hiện vẫn khá khiêm tốn?

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”
Bà Lê Vân

Bà Lê Vân: Đây là giai đoạn đặt nền móng cần thiết cho một thị trường còn rất mới và dư địa tăng trưởng, cơ hội phát triển rất lớn. Dù vậy, sau hơn 10 năm kể từ khi Nghị định 88 được ban hành, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng thị trường quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện của Việt Nam chưa phát triển tương xứng với quy mô nền kinh tế, cũng như nhu cầu tích lũy hưu trí thực ngày càng lớn của người lao động.

Tổng tài sản ròng của 4 doanh nghiệp quản lý quỹ tính đến hết năm 2025 mới đạt gần 2.210 tỷ đồng - một con số khiêm tốn nếu so với quy mô nền kinh tế và lực lượng lao động trên 50 triệu người.

Từ thực tiễn triển khai tại VCBF, chúng tôi nhận thấy có ba “điểm nghẽn” chính cần tiếp tục được tháo gỡ.

Thứ nhất, chính sách ưu đãi thuế cần hấp dẫn hơn, để khuyến khích cả doanh nghiệp và người lao động tham gia. Mức trần đóng góp được miễn thuế thu nhập cá nhân và mức được trừ vào chi phí khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp chưa tạo động lực rõ rệt so với các kênh tiết kiệm - đầu tư khác.

Bên cạnh đó, cách thức tính thuế đối với khoản chi trả hưu trí cần rõ ràng hơn, giúp cả doanh nghiệp và người lao động hình dung tổng lợi ích sau thuế trong toàn bộ vòng đời tham gia quỹ. Đây là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định tham gia dài hạn.

Thứ hai, khung pháp lý cũ chưa cho phép quỹ hưu trí đầu tư đủ linh hoạt vào các tài sản có khả năng sinh lời cao trong dài hạn, dẫn đến lợi suất chưa thực sự cạnh tranh và khó thuyết phục nhà đầu tư cá nhân lựa chọn kênh này, thay vì gửi tiết kiệm hay đầu tư bất động sản.

Thứ ba, nhận thức của người lao động về sản phẩm hưu trí bổ sung tự nguyện còn hạn chế; phần lớn vẫn coi bảo hiểm xã hội bắt buộc là “đủ” cho tuổi già, trong khi tỷ lệ thay thế thu nhập từ hệ thống này có xu hướng giảm dần.

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”
Quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện hoàn toàn có khả năng mang lại lợi suất ròng dài hạn. Ảnh tư liệu

PV: Nghị định số 85/2026/NĐ-CP ngày 25/3/2026 về bảo hiểm hưu trí bổ sung (Nghị định 85) có hiệu lực từ ngày 10/5 vừa qua được xem định hình lại “luật chơi”, giúp phát triển loại hình này. Theo bà, điểm thay đổi nào sẽ tác động lớn đến thị trường?

Bà Lê Vân: Theo đánh giá của VCBF, Nghị định 85 có nhiều điểm đột phá, những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi” và tác động mạnh nhất là việc mở rộng danh mục đầu tư cho phép quỹ hưu trí đầu tư vào chứng khoán niêm yết tối đa 30% tổng tài sản; đồng thời, giảm tỷ trọng tối thiểu bắt buộc đầu tư vào trái phiếu Chính phủ xuống còn 40% (đối với quỹ có NAV - giá trị tài sản ròng từ 5 tỷ đồng trở lên). Đây là thay đổi căn bản vì ba lý do.

Một là, quỹ hưu trí có bản chất là dòng vốn dài hạn 20 - 30 năm, hoàn toàn phù hợp với đặc thù của thị trường cổ phiếu - nơi rủi ro ngắn hạn được trung hòa bởi tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Hai là, việc nới room đầu tư cổ phiếu sẽ giúp cải thiện đáng kể lợi suất kỳ vọng của quỹ, từ đó, tăng sức hấp dẫn đối với người tham gia.

Ba là, đồng thời với việc mở rộng danh mục, Nghị định 85 cũng bổ sung các biện pháp quản trị rủi ro chặt chẽ, hạn mức đầu tư vào một tổ chức phát hành, tiêu chí lựa chọn tài sản, cơ chế giám sát đa tầng và yêu cầu nâng cao đối với doanh nghiệp quản lý quỹ.

Do đó, việc nới rộng không đồng nghĩa với rủi ro tăng tương ứng, mà ngược lại, còn góp phần củng cố niềm tin của người tham gia, giúp thị trường phát triển mạnh hơn thời gian tới.

PV: Xin bà làm rõ hơn, việc mở rộng danh mục đầu tư vào cổ phiếu được kỳ vọng sẽ cải thiện lợi suất của quỹ ra sao và liệu điều này có đi kèm những rủi ro đáng lưu ý nào đối với người tham gia quỹ, thưa bà?

Bà Lê Vân: Nghị định 88 trước đây đã cho phép quỹ hưu trí đầu tư vào các quỹ đầu tư chứng khoán. Theo đó, quỹ hưu trí hoàn toàn có thể phân bổ tài sản vào các công cụ đầu tư có mức rủi ro cao như cổ phiếu thông qua việc đầu tư vào chứng chỉ quỹ đầu tư cổ phiếu, phổ biến nhất là quỹ mở hoặc quỹ ETF.

Còn Nghị định 85 mới ban hành cho phép quỹ hưu trí đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu, làm đa dạng thêm các công cụ đầu tư, tạo thêm sự linh hoạt cho công ty quản lý quỹ hưu trí. Các công ty quản lý quỹ có thể tiếp tục phân bổ tài sản vào các quỹ đầu tư cổ phiếu, hoặc chuyển hướng sang đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu phù hợp với các giới hạn của luật, hoặc kết hợp cả hai nhằm tối ưu lợi nhuận cho quỹ dựa trên thế mạnh, kinh nghiệm của mỗi công ty.

“Lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế

Về lợi suất dài hạn, với khung đầu tư mới theo Nghị định 85, VCBF đánh giá quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện hoàn toàn có khả năng mang lại lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh, ở mức kỳ vọng khoảng 6,5% - 7,5%/năm trong giai đoạn 10 - 20 năm, cao hơn rõ rệt so với lãi suất tiết kiệm ngân hàng và tương đương hoặc cao hơn lợi suất bình quân của các quỹ mở cân bằng. Quan trọng hơn, khi cộng thêm các ưu đãi thuế dành cho người lao động và doanh nghiệp, lợi suất thực nhận của người lao động có thể cao hơn đáng kể so với việc tự đầu tư ở các kênh khác. Đây chính là giá trị cốt lõi mà quỹ hưu trí mang lại, vừa an sinh, vừa hiệu quả tài chính dài hạn.

Từ góc độ của VCBF, việc đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu, hay đầu tư vào các quỹ mở cổ phiếu do VCBF quản lý sẽ có lợi nhuận và rủi ro tương đương, nhưng tối ưu hơn về chi phí vận hành. Các khoản đầu tư được cùng một đội ngũ chuyên gia nguyên cứu và phân tích của VCBF phân tích, định giá và cùng một nhóm các Giám đốc Đầu tư lựa chọn.

Về mặt tài sản, trước mắt, chúng tôi tiếp tục phân bổ tài sản vào các quỹ mở cổ phiếu do VCBF quản lý, thay vì trực tiếp mua từng mã cổ phiếu niêm yết. Hiện tại VCBF đang quản lý 3 quỹ cổ phiếu với 3 chiến lược khác nhau, VCBF-BCF, VCBF-MGF và VCBF-AIF.

Bên cạnh đó, VCBF sẽ cân nhắc bổ sung trái phiếu ngân hàng thương mại đáp ứng các yêu cầu của luật vào danh mục tài sản của các quỹ hưu trí hiện hữu hoặc các quỹ hưu trí mới. Do trái phiếu ngân hàng mà quỹ hưu trí được đầu tư không buộc phải niêm yết, nguồn cung trái phiếu sẽ dồi dào hơn và tổ chức phát hành cũng đa dạng hơn.

PV: VCBF đặt mục tiêu mở rộng quy mô quỹ hưu trí ra sao, bà đánh giá thế nào về kỳ vọng lợi suất dài hạn của quỹ hưu trí tại Việt Nam so với các kênh đầu tư khác?

Bà Lê Vân: Trong 3 - 5 năm tới, VCBF đặt mục tiêu mở rộng quy mô quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện theo ba hướng song song. Theo đó, gia tăng NAV của quỹ lên gấp nhiều lần so với mức hiện tại, thông qua việc mở rộng mạng lưới doanh nghiệp tham gia, đặc biệt là khối doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp niêm yết, nơi văn hoá phúc lợi cho người lao động đã định hình rõ.

Cùng với đó, đa dạng hóa sản phẩm với nhiều phương án phân bổ tài sản khác nhau (thận trọng, cân bằng, tăng trưởng) để phù hợp với từng nhóm tuổi và khẩu vị rủi ro của người tham gia.

Ngoài ra, đẩy mạnh chuyển đổi số trong khâu mở tài khoản, đóng góp và tra cứu tài khoản hưu trí, đưa trải nghiệm tham gia quỹ trở nên thuận tiện như một sản phẩm tài chính cá nhân thông thường.

PV: Xin cảm ơn bà!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

(TBTCO) - Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á) năm 2026. Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong bảng xếp hạng này.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

(TBTCO) - F88 vừa điều chỉnh phương án chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, dự kiến huy động khoảng 1.563,8 tỷ đồng để tăng vốn cho công ty con phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. F88 cũng dự kiến các phương án trong trường hợp đợt chào bán không huy động đủ số vốn như kế hoạch.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 13,950 ▼200K 14,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,900 ▼200K 14,100 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,880 15,130
NL 99.90 13,850
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,900
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18267 18840
CAD 18132 18407 19023
CHF 32301 32684 33327
CNY 0 3851 3943
EUR 29694 29916 30991
GBP 34246 34637 35565
HKD 0 3227 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14943 15533
SGD 19910 20192 20768
THB 722 785 838
USD (1,2) 26050 0 0
USD (5,10,20) 26091 0 0
USD (50,100) 26120 26134 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,835 29,859 31,218
JPY 159.52 159.81 169.09
GBP 34,449 34,542 35,663
AUD 18,185 18,251 18,894
CAD 18,344 18,403 19,033
CHF 32,595 32,696 33,581
SGD 20,040 20,102 20,848
CNY - 3,824 3,961
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.94 16.62 18.04
THB 769.03 778.53 831.31
NZD 14,915 15,053 15,467
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,992 4,123
NOK - 2,699 2,788
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,023.82 - 6,784.15
TWD 752.35 - 909.27
SAR - 6,901.23 7,251.67
KWD - 83,541 88,676
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26431
AUD 18148 18248 19171
CAD 18320 18420 19433
CHF 32547 32577 34163
CNY 3834.4 3859.4 3995
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29864 29894 31619
GBP 34531 34581 36339
HKD 0 3355 0
JPY 160.3 160.8 171.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15021 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20057 20187 20915
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15300000
SBJ 13500000 13500000 15300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,431
USD20 26,151 26,201 26,431
USD1 23,915 26,201 26,431
AUD 18,201 18,301 19,408
EUR 30,019 30,019 31,578
CAD 18,270 18,370 19,673
SGD 20,137 20,287 20,852
JPY 160.8 162.3 166.84
GBP 34,431 34,781 35,653
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,744 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80