Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

Tú Anh
(TBTCO) - Khung pháp lý mới đang mở rộng dư địa đầu tư, cùng các ưu đãi thuế tiếp tục tăng sức hấp dẫn của quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Kinh nghiệm từ mô hình 401(k) tại Mỹ cho thấy, quỹ hưu trí không chỉ là “tấm đệm” tài chính cho người lao động khi về hưu, mà còn là “mạch vốn” bền bỉ, tạo lực đỡ phát triển thị trường vốn.
aa

Nới “room” đầu tư

Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí bắt đầu thành lập quỹ hưu trí từ năm 2021. Đến nay đã có 4 doanh nghiệp tham gia quản lý quỹ, với 7 quỹ được thành lập. Tính đến hết năm 2025, tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ này đạt gần 2.210 tỷ đồng, tăng 53% so với cuối năm 2024 và gấp 26 lần so với thời điểm năm 2021.

Về cơ cấu tài sản tại thời điểm cuối năm 2025, danh mục đầu tư của các quỹ chủ yếu tập trung vào 49,69% là trái phiếu chính phủ; 8,01% là tiền và các khoản tương đương tiền; 15,18% là chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; 26,61% là các khoản phải thu từ lãi, cổ tức.

Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn
Nguồn: Bộ Tài chính. Đồ họa: Phương Anh

Căn cứ quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung của người lao động phải thông qua doanh nghiệp sử dụng lao động. Toàn hệ thống quỹ hưu trí ghi nhận 28.538 người tham gia, tăng 17,1% so với năm 2024. Trong năm, tổng số tiền đóng góp vào các quỹ đạt 720,77 tỷ đồng, tăng 26,2% so với mức 570,9 tỷ đồng của năm trước; trong khi đó, tổng chi trả lên tới 67,85 tỷ đồng, tăng mạnh 104% so với 33,2 tỷ đồng năm 2024.

Triển khai Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, ngày 25/3/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2026/NĐ-CP về bảo hiểm hưu trí bổ sung (Nghị định 85). Nghị định được ban hành trên cơ sở tổng kết tình hình triển khai thời gian qua, giúp vừa thu hút sự tham gia của đông đảo người lao động, người sử dụng lao động; vừa hình thành và phát triển hệ thống quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, góp phần hỗ trợ phát triển thị trường vốn thông qua việc củng cố cơ sở nhà đầu tư vốn dài hạn.

Căn cứ định hướng chung về phát triển hệ thống quỹ, nâng cao hiệu quả đầu tư và tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai và có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2026. Điều 19 Nghị định 85 về đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung đã điều chỉnh theo hướng cho phép quỹ đầu tư vào chứng khoán niêm yết. Đồng thời, giảm tỷ trọng tối thiểu đầu tư vào trái phiếu chính phủ xuống còn 40% NAV với các quỹ có quy mô từ 5 tỷ đồng trở lên.

Đồng thời, Nghị định bổ sung các biện pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro đối với quỹ hưu trí. Theo đó, quy định mức đầu tư tối đa vào chứng khoán niêm yết (cổ phiếu, trái phiếu) và chứng chỉ quỹ (như quỹ mở); áp dụng hạn mức đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành với tiêu chuẩn chặt chẽ hơn so với quỹ mở; đồng thời thiết lập các tiêu chí cơ bản cho từng nhóm tài sản đầu tư của quỹ hưu trí. Tùy theo mục tiêu đầu tư, doanh nghiệp quản lý quỹ sẽ xây dựng và ban hành tiêu chí lựa chọn tài sản cụ thể.

Trao đổi với phóng viên, giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ lớn đang quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, danh mục đầu tư hiện được đánh giá tương đối hài hòa giữa các bên. Trước đây, quy định yêu cầu tối thiểu 50% tổng giá trị tài sản quỹ hưu trí phải đầu tư vào trái phiếu chính phủ; hiện tỷ lệ này đã được giảm xuống còn 40% và áp dụng đối với các quỹ có NAV từ 5 tỷ đồng trở lên.

“Quy định mới này giúp tháo gỡ vướng mắc trong việc đầu tư trái phiếu chính phủ, bởi đặc thù các lô trái phiếu thường có quy mô lớn, trong khi các quỹ giai đoạn đầu còn nhỏ nên gặp nhiều khó khăn khi tham gia” - vị này phân tích.

Ưu đãi thuế “kép” về thuế

Bên cạnh việc mở rộng “không gian” đầu tư, bảo hiểm hưu trí bổ sung còn được hưởng thêm ưu đãi thuế, khi người tham gia được giảm gánh nặng thuế thu nhập cá nhân, còn doanh nghiệp cũng được hưởng lợi về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo đó, tại Điều 10 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, quy định rõ các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Nhà đầu tư dài hạn, lớn trên thị trường vốn

Ở các nước, quỹ hưu trí đều là nhà đầu tư dài hạn quan trọng trên thị trường vốn, với chiến lược đầu tư hướng tới sự an toàn và bền vững, như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu niêm yết hoặc chứng chỉ quỹ. Khi tích lũy được nguồn vốn đủ lớn, các quỹ này trở thành lực lượng tham gia rất tích cực trên thị trường, thậm chí tại một số quốc gia còn là nhà đầu tư lớn nhất.

Bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính

Theo đó, doanh nghiệp được tính chi phí tối đa 5 triệu/người/tháng khi đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội hoặc quỹ có tính chất an sinh xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động, nhưng phải quy định rõ ràng và phải đóng đủ bảo hiểm bắt buộc.

Bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) cho biết thêm, hiện Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng.

Quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động. Hiện dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến. Trong đó, nội dung điều chỉnh mức khấu trừ nêu trên được xem là một điểm đáng chú ý nhằm khuyến khích người lao động tham gia các sản phẩm bảo hiểm dài hạn.

Lãnh đạo một công ty quản lý quỹ lớn kỳ vọng, khi khung pháp lý đã được hoàn thiện, thị trường sẽ phát triển nhanh hơn trong thời gian tới. Vị này cũng đề xuất khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) tham gia vào các quỹ hưu trí bổ sung như một cách “làm mẫu” cho thị trường, trong bối cảnh quy mô thị trường hiện còn nhỏ.

“Sự phát triển của các quỹ hưu trí bổ sung không chỉ góp phần mở rộng mạng lưới an sinh xã hội mà còn cung cấp nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế” - vị này nhấn mạnh.

Mô hình 401(k) tạo lực đỡ quan trọng cho thị trường vốn Mỹ

TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính - ngân hàng cho biết, tại Mỹ, nguồn vốn dài hạn phần lớn đến từ các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm, đây là “lực đỡ” quan trọng cho thị trường vốn. Việt Nam cũng có tiềm năng phát huy vai trò tương tự từ các nhà đầu tư dài hạn này, nhằm phát triển thị trường vốn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, tạo nền tảng bền vững hơn cho tăng trưởng tín dụng.

Vị chuyên gia này cho biết, tại Mỹ, chương trình 401(k) - quỹ hưu trí tự nguyện rất phổ biến, được triển khai từ đầu những năm 1980. Quỹ này hoạt động theo nguyên tắc người lao động tự nguyện trích một phần lương của mình, thường tối đa khoảng 5%, để đóng vào quỹ, trước khi bị tính thuế. Điểm hấp dẫn là công ty cũng đóng góp thêm một khoản tương ứng với phần tiền mà nhân viên đã đóng.

Số tiền trong quỹ này sẽ được đầu tư vào các tài sản tài chính: như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư... để sinh lời. Người tham gia lựa chọn danh mục đầu tư phù hợp với mức chấp nhận rủi ro. Phần lớn các khoản đầu tư đều được quản lý cẩn trọng, đảm bảo tăng trưởng dài hạn cho người lao động.

“Một lợi ích quan trọng khác là số tiền đóng vào quỹ được trừ trước khi tính thuế thu nhập, giúp giảm phần thuế phải nộp. Điều này đồng nghĩa với việc người lao động vừa tiết kiệm được cho tương lai, vừa có lợi về thuế ngay trong hiện tại” - ông Hiếu phân tích.

Đây là một mô hình rất đáng học hỏi, không chỉ giúp người lao động đảm bảo tài chính khi về già, mà còn tạo ra quỹ hưu trí tư nhân tại các doanh nghiệp, từ đó, thu hút nguồn vốn dài hạn lớn cho thị trường vốn.

Tú Anh

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Đại hội cổ đông HDBank 2026: Đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 41%, quy mô tiệm cận 1,2 triệu tỷ đồng

Đại hội cổ đông HDBank 2026: Đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 41%, quy mô tiệm cận 1,2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 24/4/2026, Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; Ck: HDB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, kết hợp chương trình gặp gỡ và đối thoại nhà đầu tư, thu hút đông đảo cổ đông, các quỹ đầu tư quốc tế và nhiều định chế tài chính lớn trong và ngoài nước.
Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

(TBTCO) - Bảo hiểm DBV hướng tới Top 4 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, với kế hoạch doanh thu bảo hiểm gốc chiếm 6.200 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 44 tỷ đồng; đồng thời, tái cấu trúc danh mục sản phẩm, đẩy mạnh chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái. DBV tiếp tục giữ lại lợi nhuận, để củng cố nền tảng tài chính và phục vụ tăng trưởng dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ "la bàn" định hướng hoạt động

Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ "la bàn" định hướng hoạt động

(TBTCO) - Năm 2026, TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 10.300 tỷ đồng, tăng 12%; tổng tài sản hướng mốc 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng đồng thời mở rộng hệ sinh thái khi dự kiến thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ, đa dạng hóa nguồn thu. Lãnh đạo TPBank cũng chỉ rõ "la bàn" định hướng của ngân hàng để vượt biến động thị trường, trong bối cảnh quy mô tăng mạnh.
Đại hội đồng cổ đông MSB: Đặt kế hoạch lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng, bước đi chiến lược  thành tập đoàn tài chính

Đại hội đồng cổ đông MSB: Đặt kế hoạch lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng, bước đi chiến lược thành tập đoàn tài chính

(TBTCO) - Năm 2026, MSB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 8.000 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay; đồng thời, lên kế hoạch tăng trưởng tín dụng 18% và phát hành cổ phiếu 20% nâng vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng. Lãnh đạo MSB nhấn mạnh chiến lược trở thành tập đoàn tài chính, chuyển đổi mô hình TNEX Finance và mở rộng sang chứng khoán, quản lý quỹ, khai thác tệp "tài nguyên quý" 8 triệu khách hàng cá nhân, cùng doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 24/4 ghi nhận diễn biến ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, mặt bằng giao dịch duy trì quanh vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

(TBTCO) - Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ và tích lũy tài chính ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Chubb - Tự Do An Phát.
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 22/04/2026, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đại hội đã thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kết quả hoạt động năm 2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026, với trọng tâm mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2023 – 2028, tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,550 16,800
Kim TT/AVPL 16,550 16,800
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,500 16,800
Nguyên Liệu 99.99 15,460 15,660
Nguyên Liệu 99.9 15,410 15,610
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,260 16,660
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,210 16,610
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,140 16,590
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,000 168,000
Hà Nội - PNJ 165,000 168,000
Đà Nẵng - PNJ 165,000 168,000
Miền Tây - PNJ 165,000 168,000
Tây Nguyên - PNJ 165,000 168,000
Đông Nam Bộ - PNJ 165,000 168,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,620 16,870
Miếng SJC Nghệ An 16,620 16,870
Miếng SJC Thái Bình 16,620 16,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,570 16,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,570 16,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,570 16,870
NL 99.90 15,400
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450
Trang sức 99.9 16,060 16,760
Trang sức 99.99 16,070 16,770
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,655 ▲1655K 16,802 ▲16802K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,655 ▲1655K 16,803 ▲16803K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 165 ▲165K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 165 ▲165K 1,676 ▲1676K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 163 ▲163K 166 ▲166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,856 ▲157856K 164,356 ▲164356K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,762 ▲115762K 124,662 ▲124662K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 104,141 ▲104141K 113,041 ▲113041K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,252 ▲9252K 10,142 ▲10142K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,038 ▲88038K 96,938 ▲96938K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,479 ▲60479K 69,379 ▲69379K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Cập nhật: 25/04/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18257 18532 19113
CAD 18721 18999 19613
CHF 32840 33225 33865
CNY 0 3815 3907
EUR 30170 30444 31471
GBP 34727 35120 36046
HKD 0 3233 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15124 15712
SGD 20080 20363 20890
THB 728 791 845
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,326 30,350 31,616
JPY 160.92 161.21 169.94
GBP 34,927 35,022 36,021
AUD 18,473 18,540 19,130
CAD 18,909 18,970 19,555
CHF 33,138 33,241 34,016
SGD 20,235 20,298 20,977
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.39 17.09 18.5
THB 775.36 784.94 836.32
NZD 15,112 15,252 15,610
SEK - 2,804 2,886
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,779 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.5 - 6,984.19
TWD 756.54 - 911.21
SAR - 6,923.57 7,250.83
KWD - 83,846 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26226 26226 26368
AUD 18443 18543 19469
CAD 18902 19002 20013
CHF 33092 33122 34705
CNY 3795.3 3820.3 3955.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30352 30382 32107
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.53
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15233 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20240 20370 21102
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16600000 16600000 16900000
SBJ 15000000 15000000 16900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,148 26,138 26,368
USD20 26,148 26,138 26,368
USD1 26,148 26,138 26,368
AUD 18,465 18,565 19,703
EUR 30,463 30,463 31,927
CAD 18,821 18,921 20,264
SGD 20,290 20,440 21,130
JPY 161.74 163.24 168.09
GBP 34,871 35,221 36,141
XAU 16,618,000 0 16,872,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/04/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80