Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

Tú Anh
(TBTCO) - Khung pháp lý mới đang mở rộng dư địa đầu tư, cùng các ưu đãi thuế tiếp tục tăng sức hấp dẫn của quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Kinh nghiệm từ mô hình 401(k) tại Mỹ cho thấy, quỹ hưu trí không chỉ là “tấm đệm” tài chính cho người lao động khi về hưu, mà còn là “mạch vốn” bền bỉ, tạo lực đỡ phát triển thị trường vốn.
aa

Nới “room” đầu tư

Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí bắt đầu thành lập quỹ hưu trí từ năm 2021. Đến nay đã có 4 doanh nghiệp tham gia quản lý quỹ, với 7 quỹ được thành lập. Tính đến hết năm 2025, tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ này đạt gần 2.210 tỷ đồng, tăng 53% so với cuối năm 2024 và gấp 26 lần so với thời điểm năm 2021.

Về cơ cấu tài sản tại thời điểm cuối năm 2025, danh mục đầu tư của các quỹ chủ yếu tập trung vào 49,69% là trái phiếu chính phủ; 8,01% là tiền và các khoản tương đương tiền; 15,18% là chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; 26,61% là các khoản phải thu từ lãi, cổ tức.

Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn
Nguồn: Bộ Tài chính. Đồ họa: Phương Anh

Căn cứ quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung của người lao động phải thông qua doanh nghiệp sử dụng lao động. Toàn hệ thống quỹ hưu trí ghi nhận 28.538 người tham gia, tăng 17,1% so với năm 2024. Trong năm, tổng số tiền đóng góp vào các quỹ đạt 720,77 tỷ đồng, tăng 26,2% so với mức 570,9 tỷ đồng của năm trước; trong khi đó, tổng chi trả lên tới 67,85 tỷ đồng, tăng mạnh 104% so với 33,2 tỷ đồng năm 2024.

Triển khai Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, ngày 25/3/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2026/NĐ-CP về bảo hiểm hưu trí bổ sung (Nghị định 85). Nghị định được ban hành trên cơ sở tổng kết tình hình triển khai thời gian qua, giúp vừa thu hút sự tham gia của đông đảo người lao động, người sử dụng lao động; vừa hình thành và phát triển hệ thống quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, góp phần hỗ trợ phát triển thị trường vốn thông qua việc củng cố cơ sở nhà đầu tư vốn dài hạn.

Căn cứ định hướng chung về phát triển hệ thống quỹ, nâng cao hiệu quả đầu tư và tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai và có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2026. Điều 19 Nghị định 85 về đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung đã điều chỉnh theo hướng cho phép quỹ đầu tư vào chứng khoán niêm yết. Đồng thời, giảm tỷ trọng tối thiểu đầu tư vào trái phiếu chính phủ xuống còn 40% NAV với các quỹ có quy mô từ 5 tỷ đồng trở lên.

Đồng thời, Nghị định bổ sung các biện pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro đối với quỹ hưu trí. Theo đó, quy định mức đầu tư tối đa vào chứng khoán niêm yết (cổ phiếu, trái phiếu) và chứng chỉ quỹ (như quỹ mở); áp dụng hạn mức đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành với tiêu chuẩn chặt chẽ hơn so với quỹ mở; đồng thời thiết lập các tiêu chí cơ bản cho từng nhóm tài sản đầu tư của quỹ hưu trí. Tùy theo mục tiêu đầu tư, doanh nghiệp quản lý quỹ sẽ xây dựng và ban hành tiêu chí lựa chọn tài sản cụ thể.

Trao đổi với phóng viên, giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ lớn đang quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, danh mục đầu tư hiện được đánh giá tương đối hài hòa giữa các bên. Trước đây, quy định yêu cầu tối thiểu 50% tổng giá trị tài sản quỹ hưu trí phải đầu tư vào trái phiếu chính phủ; hiện tỷ lệ này đã được giảm xuống còn 40% và áp dụng đối với các quỹ có NAV từ 5 tỷ đồng trở lên.

“Quy định mới này giúp tháo gỡ vướng mắc trong việc đầu tư trái phiếu chính phủ, bởi đặc thù các lô trái phiếu thường có quy mô lớn, trong khi các quỹ giai đoạn đầu còn nhỏ nên gặp nhiều khó khăn khi tham gia” - vị này phân tích.

Ưu đãi thuế “kép” về thuế

Bên cạnh việc mở rộng “không gian” đầu tư, bảo hiểm hưu trí bổ sung còn được hưởng thêm ưu đãi thuế, khi người tham gia được giảm gánh nặng thuế thu nhập cá nhân, còn doanh nghiệp cũng được hưởng lợi về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo đó, tại Điều 10 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, quy định rõ các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Nhà đầu tư dài hạn, lớn trên thị trường vốn

Ở các nước, quỹ hưu trí đều là nhà đầu tư dài hạn quan trọng trên thị trường vốn, với chiến lược đầu tư hướng tới sự an toàn và bền vững, như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu niêm yết hoặc chứng chỉ quỹ. Khi tích lũy được nguồn vốn đủ lớn, các quỹ này trở thành lực lượng tham gia rất tích cực trên thị trường, thậm chí tại một số quốc gia còn là nhà đầu tư lớn nhất.

Bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính

Theo đó, doanh nghiệp được tính chi phí tối đa 5 triệu/người/tháng khi đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội hoặc quỹ có tính chất an sinh xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động, nhưng phải quy định rõ ràng và phải đóng đủ bảo hiểm bắt buộc.

Bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) cho biết thêm, hiện Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng.

Quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động. Hiện dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến. Trong đó, nội dung điều chỉnh mức khấu trừ nêu trên được xem là một điểm đáng chú ý nhằm khuyến khích người lao động tham gia các sản phẩm bảo hiểm dài hạn.

Lãnh đạo một công ty quản lý quỹ lớn kỳ vọng, khi khung pháp lý đã được hoàn thiện, thị trường sẽ phát triển nhanh hơn trong thời gian tới. Vị này cũng đề xuất khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) tham gia vào các quỹ hưu trí bổ sung như một cách “làm mẫu” cho thị trường, trong bối cảnh quy mô thị trường hiện còn nhỏ.

“Sự phát triển của các quỹ hưu trí bổ sung không chỉ góp phần mở rộng mạng lưới an sinh xã hội mà còn cung cấp nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế” - vị này nhấn mạnh.

Mô hình 401(k) tạo lực đỡ quan trọng cho thị trường vốn Mỹ

TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính - ngân hàng cho biết, tại Mỹ, nguồn vốn dài hạn phần lớn đến từ các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm, đây là “lực đỡ” quan trọng cho thị trường vốn. Việt Nam cũng có tiềm năng phát huy vai trò tương tự từ các nhà đầu tư dài hạn này, nhằm phát triển thị trường vốn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, tạo nền tảng bền vững hơn cho tăng trưởng tín dụng.

Vị chuyên gia này cho biết, tại Mỹ, chương trình 401(k) - quỹ hưu trí tự nguyện rất phổ biến, được triển khai từ đầu những năm 1980. Quỹ này hoạt động theo nguyên tắc người lao động tự nguyện trích một phần lương của mình, thường tối đa khoảng 5%, để đóng vào quỹ, trước khi bị tính thuế. Điểm hấp dẫn là công ty cũng đóng góp thêm một khoản tương ứng với phần tiền mà nhân viên đã đóng.

Số tiền trong quỹ này sẽ được đầu tư vào các tài sản tài chính: như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư... để sinh lời. Người tham gia lựa chọn danh mục đầu tư phù hợp với mức chấp nhận rủi ro. Phần lớn các khoản đầu tư đều được quản lý cẩn trọng, đảm bảo tăng trưởng dài hạn cho người lao động.

“Một lợi ích quan trọng khác là số tiền đóng vào quỹ được trừ trước khi tính thuế thu nhập, giúp giảm phần thuế phải nộp. Điều này đồng nghĩa với việc người lao động vừa tiết kiệm được cho tương lai, vừa có lợi về thuế ngay trong hiện tại” - ông Hiếu phân tích.

Đây là một mô hình rất đáng học hỏi, không chỉ giúp người lao động đảm bảo tài chính khi về già, mà còn tạo ra quỹ hưu trí tư nhân tại các doanh nghiệp, từ đó, thu hút nguồn vốn dài hạn lớn cho thị trường vốn.

Tú Anh

Đọc thêm

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

(TBTCO) - Sáng 18/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.254 đồng, tăng 40 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 10, lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,18%, Fed vẫn giữ lập trường "diều hâu", phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao hơn để cân bằng rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
NL 99.99 12,880 ▼120K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,830 ▼120K
Trang sức 99.9 13,740 ▼140K 14,440 ▼140K
Trang sức 99.99 13,750 ▼140K 14,450 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1302K 14,602 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1302K 14,603 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,415 ▲1272K 145 ▼1320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,415 ▲1272K 1,451 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,385 ▲1245K 143 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▼1485K 141,584 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼1125K 107,411 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼7986K 974 ▼8868K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼915K 87,389 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼875K 83,527 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼626K 59,787 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Cập nhật: 20/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17867 18141 18716
CAD 18214 18490 19105
CHF 31897 32278 32920
CNY 0 3845 3937
EUR 29427 29648 30725
GBP 34589 34981 35911
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15077 15662
SGD 19830 20112 20688
THB 697 760 813
USD (1,2) 26032 0 0
USD (5,10,20) 26073 0 0
USD (50,100) 26102 26116 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,566 29,590 30,999
JPY 157.52 157.8 167.34
GBP 34,763 34,857 36,067
AUD 18,043 18,108 18,789
CAD 18,425 18,484 19,161
CHF 32,178 32,278 33,223
SGD 19,949 20,011 20,796
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,287 3,297 3,434
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 744.78 753.98 807.16
NZD 15,045 15,185 15,638
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,955 4,094
NOK - 2,683 2,777
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.96 - 6,776.76
TWD 733.05 - 887.95
SAR - 6,883.63 7,249.77
KWD - 83,192 88,508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,513 29,632 30,825
GBP 34,752 34,892 35,926
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,997 32,125 33,057
JPY 157.93 158.56 166.48
AUD 18,034 18,106 18,702
SGD 20,019 20,099 20,689
THB 762 765 801
CAD 18,434 18,508 19,090
NZD 15,118 15,663
KRW 16.95 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26480
AUD 18065 18165 19088
CAD 18419 18519 19533
CHF 32205 32235 33813
CNY 3825.6 3850.6 3986
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31404
GBP 34929 34979 36747
HKD 0 3355 0
JPY 158.46 158.96 169.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15207 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20000 20130 20862
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,118 26,168 26,490
USD20 26,118 26,168 26,490
USD1 26,118 26,168 26,490
AUD 18,067 18,167 19,275
EUR 29,416 29,516 31,172
CAD 18,365 18,465 19,770
SGD 20,056 20,206 20,830
JPY 158.85 160.35 165.9
GBP 34,778 34,928 36,001
XAU 14,388,000 0 14,692,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80