Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
aa

Tỷ giá thêm áp lực sau xung đột Mỹ - Iran

Sau khi đạt mức cao kỷ lục 25.298 đồng vào ngày 22/8/2025, tỷ giá trung tâm bước vào nhịp điều chỉnh kéo dài và giảm xuống 25.038 đồng vào ngày 2/3/2026, tương đương giảm 260 đồng, tương ứng khoảng 1,04%. Đây cũng là mức thấp nhất trong khoảng 7 tháng.

Tuy nhiên, kể từ đầu tháng 3/2026, tỷ giá trung tâm đảo chiều tăng trở lại. Dù vậy, nếu so với đầu năm 2026, tỷ giá trung tâm mới chỉ tăng 26 đồng, tương đương khoảng 0,1%, cho thấy áp lực tỷ giá vẫn trong tầm kiểm soát.

Diễn biến này có mối tương quan khá rõ với sự phục hồi của đồng USD trên thị trường quốc tế. Từ cuối tháng 2/2026, căng thẳng Mỹ - Iran leo thang đã thúc đẩy nhu cầu nắm giữ các tài sản an toàn, trong đó có đồng USD, cùng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì mặt bằng lãi suất cao trong thời gian dài hơn.

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi
Đồ họa tư liệu

Tuy nhiên, xét trong dài hạn, mối quan hệ giữa DXY và tỷ giá trung tâm không hoàn toàn tỷ lệ thuận. Nếu như chỉ số DXY giảm gần 16% từ vùng đỉnh, thì tỷ giá trung tâm không giảm theo, mà vẫn duy trì xu hướng trượt dần.

Xu hướng trượt giá của VND rõ nét từ năm 2022, khi Fed thực hiện chính sách “diều hâu” thắt chặt tiền tệ mạnh nhất trong nhiều thập kỷ để chống lại lạm phát, nâng lãi suất điều hành lên 5,25 - 5,5%, mức cao nhất kể từ năm 2001.

Hiện tỷ giá trung tâm cao hơn 1.992 đồng so với cuối năm 2019, tương đương tăng khoảng 8,6% sau hơn 5 năm. Mức tăng của tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại lớn hơn đáng kể. Chẳng hạn, tại Vietcombank sáng ngày 5/6, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.094 - 26.404 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng tới 3.484 đồng ở cả hai chiều so với đầu năm 2022, tương đương tăng 15,4%.

Điều này cho thấy, diễn biến tỷ giá USD/VND không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh toàn cầu của đồng USD, mà còn chịu tác động từ nhiều yếu tố trong nước, như chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ, nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài, dòng vốn đầu tư và định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước...

Cán cân tổng thể chuyển biến tích cực

Đằng sau diễn biến tỷ giá là biến động mạnh cán cân tổng thể giai đoạn 2022 - 2025. Thời điểm quý III/2022, cán cân tổng thể từng thâm hụt lớn 15,6 tỷ USD, chủ yếu do áp lực tỷ giá và dòng vốn rút ra. Dù vậy, tình hình dần cải thiện. Số liệu gần nhất quý IV/2025 do Ngân hàng Nhà nước công bố cho thấy, cán cân tổng thể thặng dư 2,35 tỷ USD, cải thiện mạnh so với mức âm 1,67 tỷ USD cùng kỳ.

Động lực chính giúp cán cân tổng thể chuyển sang trạng thái dương đến từ cán cân tài chính, khi khoản mục này tăng mạnh từ 387 triệu USD trong quý IV/2024 lên 7.076 triệu USD trong quý IV/2025, tương đương gấp 18 lần. Trong đó, đầu tư trực tiếp ròng (FDI) tăng 8,9%; dòng vốn đầu tư gián tiếp vẫn âm, nhưng mức thâm hụt thu hẹp từ 2 tỷ USD xuống 850 triệu USD. Đặc biệt, đầu tư khác ròng chuyển từ âm sang dương hơn 1 tỷ USD, cải thiện gần 4,9 tỷ USD.

Tích trữ nguyên liệu, kỳ vọng xuất khẩu tăng tốc

“Thực tế cho thấy, cơ cấu hàng nhập khẩu rất tích cực. Nhóm hàng tư liệu sản xuất, gồm máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, điện tử..., chiếm tới gần 94% tổng kim ngạch nhập khẩu. Đây là hiện tượng nhập khẩu trước để tạo đà xuất khẩu trong các quý tiếp theo”.

TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam

Ở chiều ngược lại, cán cân vãng lai vẫn duy trì thặng dư lớn 7,65 tỷ USD, dù giảm 6,4% so với cùng kỳ, với điểm tích cực là xuất siêu hàng hóa.

Dẫu vậy, khác với năm 2025, theo số liệu của Cục Thống kê, cán cân xuất nhập khẩu đã thâm hụt lũy kế 14,44 tỷ USD trong 6 tháng từ tháng 12/2025 đến tháng 5/2026. Diễn biến này phản ánh nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu đang tăng nhanh hơn nguồn thu từ xuất khẩu. Trong bối cảnh đồng USD quốc tế phục hồi và căng thẳng địa chính trị gia tăng, cán cân thương mại chuyển sang trạng thái thâm hụt kéo dài có thể tạo thêm sức ép lên tỷ giá USD/VND các tháng tới.

Ở góc nhìn tích cực, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, mức nhập siêu này một phần do nhu cầu tích trữ nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp tăng đột biến. Điều này cho thấy, doanh nghiệp đang chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất mới, đẩy mạnh tích hàng hóa, tư liệu sản xuất, nguyên - nhiên - vật liệu.

Hơn nữa, các doanh nghiệp có phương án chuẩn bị tốt hơn để quản trị rủi ro, đề phòng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, dẫn đến tâm lý tích trữ phòng ngừa. Chi phí nhập khẩu các mặt hàng năng lượng thiết yếu như xăng dầu, than đá, khí đốt... tăng cao, làm “phình to” tổng kim ngạch nhập khẩu.

Ngoài ra, theo TS. Lê Duy Bình, kim ngạch nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng vọt, tạo áp lực thâm hụt ngắn hạn. Một phần nguyên nhân đến từ ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng đủ quy mô sản xuất lớn, buộc các chuỗi lắp ráp công nghệ cao phải nhập linh kiện từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

Theo nhận định từ phía Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá USD/VND nhìn chung có xu hướng giảm trong giai đoạn trước Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, tỷ giá và thị trường ngoại tệ tiếp tục chịu áp lực từ diễn biến phức tạp, khó lường trên thị trường quốc tế, do lộ trình chính sách tiền tệ khó lường của Fed; chính sách thương mại, thuế quan bất định của Mỹ; căng thẳng địa chính trị diễn biến phức tạp và thách thức, khó khăn trong nước.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, nhằm ổn định thị trường ngoại tệ.

Sức ép từ nhập siêu, FDI tiếp tục là điểm tựa

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, áp lực tỷ giá chủ yếu đến từ nhu cầu ngoại tệ trong nước và chênh lệch cung cầu USD chưa thực sự cải thiện, do cán cân thương mại chuyển sang thâm hụt.

Đồng thời, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước, sát trần mục tiêu đề ra cả năm, cùng với giá đầu vào sản xuất theo chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tăng mạnh tiếp tục tạo áp lực lên kỳ vọng lạm phát và tỷ giá.

Trên thị trường quốc tế, mặt bằng lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ quay lại vùng 4,4 - 4,5% kể từ đầu tháng 5 cũng góp phần duy trì kỳ vọng cho đồng USD và áp lực lên các đồng tiền châu Á.

Ở chiều ngược lại, số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, dòng vốn FDI 5 tháng đầu năm khá tích cực, với vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần đạt 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% cùng kỳ; vốn thực hiện đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6%.

“Xu hướng giữ lại lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI, chuyển về nước ít hơn để tận dụng mặt bằng lợi suất VND cải thiện, đã hỗ trợ cung cầu ngoại tệ và góp phần ổn định tỷ giá” - nhóm phân tích của VNDIRECT đánh giá.

VNDIRECT kỳ vọng, nguồn cung ngoại tệ sẽ được cải thiện nhờ dòng vốn FDI giải ngân mạnh mẽ, hoạt động xuất khẩu tăng tốc, cùng xu hướng mở rộng vay vốn quốc tế của các ngân hàng và doanh nghiệp trong nước. Những yếu tố này sẽ góp phần ổn định tỷ giá, tạo dư địa để Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ, giữ vững mặt bằng lãi suất hợp lý, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nửa cuối năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲70K 14,560 ▲70K
Trang sức 99.99 13,970 ▲70K 14,570 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▲12K 14,652 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▲12K 14,653 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1275K 146 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1275K 1,461 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▲12K 145 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▲1188K 143,564 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▲900K 108,911 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼79248K 9,876 ▼88068K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲732K 88,609 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▲699K 84,693 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲500K 60,621 ▲500K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cập nhật: 16/09/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,684 25,724 26,180
USD20 25,654 25,724 26,180
USD1 25,634 25,724 26,180
AUD 18,217 18,317 19,422
EUR 29,347 29,447 31,106
CAD 18,251 18,351 19,655
SGD 20,102 20,252 20,816
JPY 164.48 165.98 171.53
GBP 34,423 34,573 35,630
XAU 14,288,000 0 14,592,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30