Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
aa

Tỷ giá thêm áp lực sau xung đột Mỹ - Iran

Sau khi đạt mức cao kỷ lục 25.298 đồng vào ngày 22/8/2025, tỷ giá trung tâm bước vào nhịp điều chỉnh kéo dài và giảm xuống 25.038 đồng vào ngày 2/3/2026, tương đương giảm 260 đồng, tương ứng khoảng 1,04%. Đây cũng là mức thấp nhất trong khoảng 7 tháng.

Tuy nhiên, kể từ đầu tháng 3/2026, tỷ giá trung tâm đảo chiều tăng trở lại. Dù vậy, nếu so với đầu năm 2026, tỷ giá trung tâm mới chỉ tăng 26 đồng, tương đương khoảng 0,1%, cho thấy áp lực tỷ giá vẫn trong tầm kiểm soát.

Diễn biến này có mối tương quan khá rõ với sự phục hồi của đồng USD trên thị trường quốc tế. Từ cuối tháng 2/2026, căng thẳng Mỹ - Iran leo thang đã thúc đẩy nhu cầu nắm giữ các tài sản an toàn, trong đó có đồng USD, cùng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì mặt bằng lãi suất cao trong thời gian dài hơn.

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi
Đồ họa tư liệu

Tuy nhiên, xét trong dài hạn, mối quan hệ giữa DXY và tỷ giá trung tâm không hoàn toàn tỷ lệ thuận. Nếu như chỉ số DXY giảm gần 16% từ vùng đỉnh, thì tỷ giá trung tâm không giảm theo, mà vẫn duy trì xu hướng trượt dần.

Xu hướng trượt giá của VND rõ nét từ năm 2022, khi Fed thực hiện chính sách “diều hâu” thắt chặt tiền tệ mạnh nhất trong nhiều thập kỷ để chống lại lạm phát, nâng lãi suất điều hành lên 5,25 - 5,5%, mức cao nhất kể từ năm 2001.

Hiện tỷ giá trung tâm cao hơn 1.992 đồng so với cuối năm 2019, tương đương tăng khoảng 8,6% sau hơn 5 năm. Mức tăng của tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại lớn hơn đáng kể. Chẳng hạn, tại Vietcombank sáng ngày 5/6, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.094 - 26.404 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng tới 3.484 đồng ở cả hai chiều so với đầu năm 2022, tương đương tăng 15,4%.

Điều này cho thấy, diễn biến tỷ giá USD/VND không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh toàn cầu của đồng USD, mà còn chịu tác động từ nhiều yếu tố trong nước, như chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ, nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài, dòng vốn đầu tư và định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước...

Cán cân tổng thể chuyển biến tích cực

Đằng sau diễn biến tỷ giá là biến động mạnh cán cân tổng thể giai đoạn 2022 - 2025. Thời điểm quý III/2022, cán cân tổng thể từng thâm hụt lớn 15,6 tỷ USD, chủ yếu do áp lực tỷ giá và dòng vốn rút ra. Dù vậy, tình hình dần cải thiện. Số liệu gần nhất quý IV/2025 do Ngân hàng Nhà nước công bố cho thấy, cán cân tổng thể thặng dư 2,35 tỷ USD, cải thiện mạnh so với mức âm 1,67 tỷ USD cùng kỳ.

Động lực chính giúp cán cân tổng thể chuyển sang trạng thái dương đến từ cán cân tài chính, khi khoản mục này tăng mạnh từ 387 triệu USD trong quý IV/2024 lên 7.076 triệu USD trong quý IV/2025, tương đương gấp 18 lần. Trong đó, đầu tư trực tiếp ròng (FDI) tăng 8,9%; dòng vốn đầu tư gián tiếp vẫn âm, nhưng mức thâm hụt thu hẹp từ 2 tỷ USD xuống 850 triệu USD. Đặc biệt, đầu tư khác ròng chuyển từ âm sang dương hơn 1 tỷ USD, cải thiện gần 4,9 tỷ USD.

Tích trữ nguyên liệu, kỳ vọng xuất khẩu tăng tốc

“Thực tế cho thấy, cơ cấu hàng nhập khẩu rất tích cực. Nhóm hàng tư liệu sản xuất, gồm máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, điện tử..., chiếm tới gần 94% tổng kim ngạch nhập khẩu. Đây là hiện tượng nhập khẩu trước để tạo đà xuất khẩu trong các quý tiếp theo”.

TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam

Ở chiều ngược lại, cán cân vãng lai vẫn duy trì thặng dư lớn 7,65 tỷ USD, dù giảm 6,4% so với cùng kỳ, với điểm tích cực là xuất siêu hàng hóa.

Dẫu vậy, khác với năm 2025, theo số liệu của Cục Thống kê, cán cân xuất nhập khẩu đã thâm hụt lũy kế 14,44 tỷ USD trong 6 tháng từ tháng 12/2025 đến tháng 5/2026. Diễn biến này phản ánh nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu đang tăng nhanh hơn nguồn thu từ xuất khẩu. Trong bối cảnh đồng USD quốc tế phục hồi và căng thẳng địa chính trị gia tăng, cán cân thương mại chuyển sang trạng thái thâm hụt kéo dài có thể tạo thêm sức ép lên tỷ giá USD/VND các tháng tới.

Ở góc nhìn tích cực, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, mức nhập siêu này một phần do nhu cầu tích trữ nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp tăng đột biến. Điều này cho thấy, doanh nghiệp đang chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất mới, đẩy mạnh tích hàng hóa, tư liệu sản xuất, nguyên - nhiên - vật liệu.

Hơn nữa, các doanh nghiệp có phương án chuẩn bị tốt hơn để quản trị rủi ro, đề phòng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, dẫn đến tâm lý tích trữ phòng ngừa. Chi phí nhập khẩu các mặt hàng năng lượng thiết yếu như xăng dầu, than đá, khí đốt... tăng cao, làm “phình to” tổng kim ngạch nhập khẩu.

Ngoài ra, theo TS. Lê Duy Bình, kim ngạch nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng vọt, tạo áp lực thâm hụt ngắn hạn. Một phần nguyên nhân đến từ ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng đủ quy mô sản xuất lớn, buộc các chuỗi lắp ráp công nghệ cao phải nhập linh kiện từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

Theo nhận định từ phía Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá USD/VND nhìn chung có xu hướng giảm trong giai đoạn trước Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, tỷ giá và thị trường ngoại tệ tiếp tục chịu áp lực từ diễn biến phức tạp, khó lường trên thị trường quốc tế, do lộ trình chính sách tiền tệ khó lường của Fed; chính sách thương mại, thuế quan bất định của Mỹ; căng thẳng địa chính trị diễn biến phức tạp và thách thức, khó khăn trong nước.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, nhằm ổn định thị trường ngoại tệ.

Sức ép từ nhập siêu, FDI tiếp tục là điểm tựa

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, áp lực tỷ giá chủ yếu đến từ nhu cầu ngoại tệ trong nước và chênh lệch cung cầu USD chưa thực sự cải thiện, do cán cân thương mại chuyển sang thâm hụt.

Đồng thời, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước, sát trần mục tiêu đề ra cả năm, cùng với giá đầu vào sản xuất theo chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tăng mạnh tiếp tục tạo áp lực lên kỳ vọng lạm phát và tỷ giá.

Trên thị trường quốc tế, mặt bằng lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ quay lại vùng 4,4 - 4,5% kể từ đầu tháng 5 cũng góp phần duy trì kỳ vọng cho đồng USD và áp lực lên các đồng tiền châu Á.

Ở chiều ngược lại, số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, dòng vốn FDI 5 tháng đầu năm khá tích cực, với vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần đạt 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% cùng kỳ; vốn thực hiện đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6%.

“Xu hướng giữ lại lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI, chuyển về nước ít hơn để tận dụng mặt bằng lợi suất VND cải thiện, đã hỗ trợ cung cầu ngoại tệ và góp phần ổn định tỷ giá” - nhóm phân tích của VNDIRECT đánh giá.

VNDIRECT kỳ vọng, nguồn cung ngoại tệ sẽ được cải thiện nhờ dòng vốn FDI giải ngân mạnh mẽ, hoạt động xuất khẩu tăng tốc, cùng xu hướng mở rộng vay vốn quốc tế của các ngân hàng và doanh nghiệp trong nước. Những yếu tố này sẽ góp phần ổn định tỷ giá, tạo dư địa để Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ, giữ vững mặt bằng lãi suất hợp lý, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nửa cuối năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 145 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cùng mất từ 900.000 đến 1,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm tử kỳ tạo sức bật, mở các hướng đi mới

Bảo hiểm tử kỳ tạo sức bật, mở các hướng đi mới

(TBTCO) - Nhu cầu về “tấm lá chắn” bảo vệ thuần túy, thực chất ngày càng rõ nét, đưa bảo hiểm tử kỳ dẫn đầu với hơn 50% số hợp đồng nhân thọ khai thác mới trong 9 tháng. Với chi phí hợp lý, quyền lợi bảo vệ cao, sản phẩm này được nhiều doanh nghiệp chú trọng phát triển, mở rộng kênh phân phối, thậm chí trở thành "mũi nhọn" kinh doanh.
Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

(TBTCO) - Dư địa phát triển bảo hiểm nông nghiệp được mở rộng khi Nghị định số 346/2026/NĐ-CP trao thêm quyền chủ động, linh hoạt hơn cho doanh nghiệp và địa phương. Để chính sách sớm phát huy hiệu quả, việc địa phương sớm ban hành danh mục hỗ trợ, doanh nghiệp năng động triển khai, bảo vệ sinh kế người dân trước rủi ro ngay từ những vụ sản xuất tới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 01/11/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/11/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30