Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
aa

Tỷ giá thêm áp lực sau xung đột Mỹ - Iran

Sau khi đạt mức cao kỷ lục 25.298 đồng vào ngày 22/8/2025, tỷ giá trung tâm bước vào nhịp điều chỉnh kéo dài và giảm xuống 25.038 đồng vào ngày 2/3/2026, tương đương giảm 260 đồng, tương ứng khoảng 1,04%. Đây cũng là mức thấp nhất trong khoảng 7 tháng.

Tuy nhiên, kể từ đầu tháng 3/2026, tỷ giá trung tâm đảo chiều tăng trở lại. Dù vậy, nếu so với đầu năm 2026, tỷ giá trung tâm mới chỉ tăng 26 đồng, tương đương khoảng 0,1%, cho thấy áp lực tỷ giá vẫn trong tầm kiểm soát.

Diễn biến này có mối tương quan khá rõ với sự phục hồi của đồng USD trên thị trường quốc tế. Từ cuối tháng 2/2026, căng thẳng Mỹ - Iran leo thang đã thúc đẩy nhu cầu nắm giữ các tài sản an toàn, trong đó có đồng USD, cùng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì mặt bằng lãi suất cao trong thời gian dài hơn.

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi
Đồ họa tư liệu

Tuy nhiên, xét trong dài hạn, mối quan hệ giữa DXY và tỷ giá trung tâm không hoàn toàn tỷ lệ thuận. Nếu như chỉ số DXY giảm gần 16% từ vùng đỉnh, thì tỷ giá trung tâm không giảm theo, mà vẫn duy trì xu hướng trượt dần.

Xu hướng trượt giá của VND rõ nét từ năm 2022, khi Fed thực hiện chính sách “diều hâu” thắt chặt tiền tệ mạnh nhất trong nhiều thập kỷ để chống lại lạm phát, nâng lãi suất điều hành lên 5,25 - 5,5%, mức cao nhất kể từ năm 2001.

Hiện tỷ giá trung tâm cao hơn 1.992 đồng so với cuối năm 2019, tương đương tăng khoảng 8,6% sau hơn 5 năm. Mức tăng của tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại lớn hơn đáng kể. Chẳng hạn, tại Vietcombank sáng ngày 5/6, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.094 - 26.404 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng tới 3.484 đồng ở cả hai chiều so với đầu năm 2022, tương đương tăng 15,4%.

Điều này cho thấy, diễn biến tỷ giá USD/VND không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh toàn cầu của đồng USD, mà còn chịu tác động từ nhiều yếu tố trong nước, như chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ, nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài, dòng vốn đầu tư và định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước...

Cán cân tổng thể chuyển biến tích cực

Đằng sau diễn biến tỷ giá là biến động mạnh cán cân tổng thể giai đoạn 2022 - 2025. Thời điểm quý III/2022, cán cân tổng thể từng thâm hụt lớn 15,6 tỷ USD, chủ yếu do áp lực tỷ giá và dòng vốn rút ra. Dù vậy, tình hình dần cải thiện. Số liệu gần nhất quý IV/2025 do Ngân hàng Nhà nước công bố cho thấy, cán cân tổng thể thặng dư 2,35 tỷ USD, cải thiện mạnh so với mức âm 1,67 tỷ USD cùng kỳ.

Động lực chính giúp cán cân tổng thể chuyển sang trạng thái dương đến từ cán cân tài chính, khi khoản mục này tăng mạnh từ 387 triệu USD trong quý IV/2024 lên 7.076 triệu USD trong quý IV/2025, tương đương gấp 18 lần. Trong đó, đầu tư trực tiếp ròng (FDI) tăng 8,9%; dòng vốn đầu tư gián tiếp vẫn âm, nhưng mức thâm hụt thu hẹp từ 2 tỷ USD xuống 850 triệu USD. Đặc biệt, đầu tư khác ròng chuyển từ âm sang dương hơn 1 tỷ USD, cải thiện gần 4,9 tỷ USD.

Tích trữ nguyên liệu, kỳ vọng xuất khẩu tăng tốc

“Thực tế cho thấy, cơ cấu hàng nhập khẩu rất tích cực. Nhóm hàng tư liệu sản xuất, gồm máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, điện tử..., chiếm tới gần 94% tổng kim ngạch nhập khẩu. Đây là hiện tượng nhập khẩu trước để tạo đà xuất khẩu trong các quý tiếp theo”.

TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam

Ở chiều ngược lại, cán cân vãng lai vẫn duy trì thặng dư lớn 7,65 tỷ USD, dù giảm 6,4% so với cùng kỳ, với điểm tích cực là xuất siêu hàng hóa.

Dẫu vậy, khác với năm 2025, theo số liệu của Cục Thống kê, cán cân xuất nhập khẩu đã thâm hụt lũy kế 14,44 tỷ USD trong 6 tháng từ tháng 12/2025 đến tháng 5/2026. Diễn biến này phản ánh nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu đang tăng nhanh hơn nguồn thu từ xuất khẩu. Trong bối cảnh đồng USD quốc tế phục hồi và căng thẳng địa chính trị gia tăng, cán cân thương mại chuyển sang trạng thái thâm hụt kéo dài có thể tạo thêm sức ép lên tỷ giá USD/VND các tháng tới.

Ở góc nhìn tích cực, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, mức nhập siêu này một phần do nhu cầu tích trữ nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp tăng đột biến. Điều này cho thấy, doanh nghiệp đang chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất mới, đẩy mạnh tích hàng hóa, tư liệu sản xuất, nguyên - nhiên - vật liệu.

Hơn nữa, các doanh nghiệp có phương án chuẩn bị tốt hơn để quản trị rủi ro, đề phòng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, dẫn đến tâm lý tích trữ phòng ngừa. Chi phí nhập khẩu các mặt hàng năng lượng thiết yếu như xăng dầu, than đá, khí đốt... tăng cao, làm “phình to” tổng kim ngạch nhập khẩu.

Ngoài ra, theo TS. Lê Duy Bình, kim ngạch nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng vọt, tạo áp lực thâm hụt ngắn hạn. Một phần nguyên nhân đến từ ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng đủ quy mô sản xuất lớn, buộc các chuỗi lắp ráp công nghệ cao phải nhập linh kiện từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

Theo nhận định từ phía Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá USD/VND nhìn chung có xu hướng giảm trong giai đoạn trước Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, tỷ giá và thị trường ngoại tệ tiếp tục chịu áp lực từ diễn biến phức tạp, khó lường trên thị trường quốc tế, do lộ trình chính sách tiền tệ khó lường của Fed; chính sách thương mại, thuế quan bất định của Mỹ; căng thẳng địa chính trị diễn biến phức tạp và thách thức, khó khăn trong nước.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, nhằm ổn định thị trường ngoại tệ.

Sức ép từ nhập siêu, FDI tiếp tục là điểm tựa

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, áp lực tỷ giá chủ yếu đến từ nhu cầu ngoại tệ trong nước và chênh lệch cung cầu USD chưa thực sự cải thiện, do cán cân thương mại chuyển sang thâm hụt.

Đồng thời, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước, sát trần mục tiêu đề ra cả năm, cùng với giá đầu vào sản xuất theo chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tăng mạnh tiếp tục tạo áp lực lên kỳ vọng lạm phát và tỷ giá.

Trên thị trường quốc tế, mặt bằng lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ quay lại vùng 4,4 - 4,5% kể từ đầu tháng 5 cũng góp phần duy trì kỳ vọng cho đồng USD và áp lực lên các đồng tiền châu Á.

Ở chiều ngược lại, số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, dòng vốn FDI 5 tháng đầu năm khá tích cực, với vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần đạt 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% cùng kỳ; vốn thực hiện đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6%.

“Xu hướng giữ lại lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI, chuyển về nước ít hơn để tận dụng mặt bằng lợi suất VND cải thiện, đã hỗ trợ cung cầu ngoại tệ và góp phần ổn định tỷ giá” - nhóm phân tích của VNDIRECT đánh giá.

VNDIRECT kỳ vọng, nguồn cung ngoại tệ sẽ được cải thiện nhờ dòng vốn FDI giải ngân mạnh mẽ, hoạt động xuất khẩu tăng tốc, cùng xu hướng mở rộng vay vốn quốc tế của các ngân hàng và doanh nghiệp trong nước. Những yếu tố này sẽ góp phần ổn định tỷ giá, tạo dư địa để Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ, giữ vững mặt bằng lãi suất hợp lý, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nửa cuối năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
Bộ Tài chính bãi bỏ thủ tục chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm từ ngày 1/7

Bộ Tài chính bãi bỏ thủ tục chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1381/QĐ-BTC công bố bãi bỏ thủ tục hành chính “Chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm”. Theo quy định hiện hành, việc chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm cấp trước ngày 1/1/2023 phải hoàn thành trước ngày 30/6/2026, các chứng chỉ chưa được chuyển đổi sẽ hết hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 600.000 đồng/lượng trong sáng 5/6, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

(TBTCO) - Sáng ngày 5/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.147 đồng/USD, tăng 2 đồng phiên cuối tuần. Giá USD tự do phổ biến quanh 26.380 - 26.410 VND/USD, tương đương mức giao dịch tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY tăng 0,02% lên 99,43 điểm, duy trì gần mức cao 02 tháng, nhờ nhu cầu trú ẩn an toàn trước căng thẳng Mỹ - Iran.
Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo của Chứng khoán SHS cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động vượt 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Đáng chú ý, tổng phương tiện thanh toán (M2) từng giảm khoảng 1,25 triệu tỷ đồng, phản ánh lượng tiền trong nền kinh tế bị thu hẹp, qua đó gia tăng áp lực huy động vốn.
ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa chốt ngày 16/6 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông nhận cổ tức năm 2025 bằng cả tiền mặt và cổ phiếu, với tổng tỷ lệ 20%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành tối đa gần 668 triệu cổ phiếu để trả cổ tức tỷ lệ 13%, qua đó, nâng vốn điều lệ thêm 6.677,6 tỷ đồng, lên hơn 58.000 tỷ đồng, tiếp tục củng cố năng lực tài chính và nền tảng tăng trưởng.
Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

(TBTCO) - Khẳng định cam kết đồng hành lâu dài vì sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, Sun Life Việt Nam tiếp tục là nhà tài trợ đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026 – giải chạy ý nghĩa nhằm chung tay hỗ trợ trẻ em mắc bệnh ung thư tại Việt Nam do Hiệp hội Doanh nghiệp Canada tại Việt Nam (CanCham) tổ chức.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
Kim TT/AVPL 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
Nguyên Liệu 99.99 13,900 ▼100K 14,100 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,850 ▼100K 14,050 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,150 ▼350K 14,550 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,100 ▼350K 14,500 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,030 ▼350K 14,480 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▼3700K 146,500 ▼3700K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▼3700K 146,500 ▼3700K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▼3700K 146,500 ▼3700K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▼3700K 146,500 ▼3700K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▼3700K 146,500 ▼3700K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▼3700K 146,500 ▼3700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼370K 14,650 ▼370K
NL 99.90 13,650 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700 ▼100K
Trang sức 99.9 13,840 ▼370K 14,540 ▼370K
Trang sức 99.99 13,850 ▼370K 14,550 ▼370K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▼37K 14,652 ▼370K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▼37K 14,653 ▼370K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲1277K 1,463 ▲1313K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲1277K 1,464 ▼37K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,403 ▲1259K 1,448 ▼37K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,866 ▲122813K 143,366 ▲128663K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▼2775K 108,761 ▼2775K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,724 ▲80500K 98,624 ▲88510K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,587 ▼2257K 88,487 ▼2257K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,677 ▼2157K 84,577 ▼2157K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,638 ▼1543K 60,538 ▼1543K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼37K 1,465 ▼37K
Cập nhật: 08/06/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18010 18284 18859
CAD 18357 18633 19248
CHF 32378 32761 33408
CNY 0 3842 3934
EUR 29714 29986 31013
GBP 34308 34699 35629
HKD 0 3231 3434
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14960 15547
SGD 19871 20153 20670
THB 716 779 832
USD (1,2) 26079 0 0
USD (5,10,20) 26120 0 0
USD (50,100) 26148 26163 26407
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,407
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 29,909 29,933 31,244
JPY 160.09 160.38 169.43
GBP 34,566 34,660 35,722
AUD 18,262 18,328 18,944
CAD 18,572 18,632 19,241
CHF 32,676 32,778 33,622
SGD 20,026 20,088 20,801
CNY - 3,816 3,947
HKD 3,301 3,311 3,436
KRW 15.66 16.33 17.7
THB 765.7 775.16 826.44
NZD 14,959 15,098 15,489
SEK - 2,740 2,827
DKK - 4,002 4,127
NOK - 2,745 2,832
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,062.57 - 6,815.72
TWD 752.72 - 908.33
SAR - 6,909.86 7,250.22
KWD - 83,606 88,610
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,117 26,137 26,407
EUR 29,804 29,924 31,110
GBP 34,521 34,660 35,677
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,524 32,655 33,570
JPY 160.39 161.03 168.53
AUD 18,239 18,312 18,904
SGD 20,060 20,141 20,722
THB 783 786 821
CAD 18,545 18,619 19,186
NZD 15,041 15,576
KRW 16.33 17.89
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26407
AUD 18190 18290 19215
CAD 18535 18635 19651
CHF 32628 32658 34232
CNY 3822.8 3847.8 3983.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29895 29925 31652
GBP 34599 34649 36407
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.86
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15066 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20027 20157 20878
THB 0 745.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14350000 14350000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,142 26,407
USD20 26,168 26,142 26,407
USD1 23,893 26,142 26,407
AUD 18,266 18,366 19,479
EUR 30,065 30,065 31,472
CAD 18,482 18,582 19,891
SGD 20,104 20,254 20,819
JPY 161.21 162.71 167.28
GBP 34,524 34,874 35,751
XAU 14,588,000 0 14,992,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/06/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80