SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

Anh Tú
(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
aa

Công ty cổ phần SJ Group (SJ Group - mã Ck: SJS) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Quý II/2026, Công ty Cổ phần SJ Group ghi nhận doanh thu thuần đạt 443,4 tỷ đồng, tăng 128,7% so với cùng kỳ và là mức cao nhất theo quý từ trước đến nay. Trong khi đó, giá vốn hàng bán giảm 7,5% xuống gần 100 tỷ đồng, giúp lợi nhuận gộp tăng 142,1%, đạt 344 tỷ đồng. Sau khi khấu trừ các chi phí, lợi nhuận trước thuế đạt 306,6 tỷ đồng, tăng 135,8% so với quý II/2025.

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm
Dự án Nam An Khánh. Ảnh minh họa.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu thuần đạt 760,2 tỷ đồng, tăng 121% so với cùng kỳ; lợi nhuận gộp đạt 573 tỷ đồng, tăng 133,3. Lợi nhuận trước thuế SJ Group đạt 526,3 tỷ đồng, tăng 143,1%. Với kết quả này, SJ Group đã hoàn thành khoảng 35% kế hoạch lợi nhuận sau thuế năm 2026 được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Đáng chú ý, doanh thu 6 tháng đầu năm chủ yếu được ghi nhận từ các hợp đồng đã ký và khoản tiền khách hàng thanh toán trước theo tiến độ trong năm 2025, tập trung tại dự án Khu đô thị mới Nam An Khánh.

Điều này thể hiện qua khoản mục người mua trả tiền trước giảm mạnh từ 681,1 tỷ đồng cuối năm 2025 xuống còn 17,9 tỷ đồng tại ngày 30/6/2026, tương ứng giảm gần 97,4%. Riêng tại dự án Nam An Khánh, số dư người mua trả tiền trước giảm từ 678,7 tỷ đồng xuống còn 13,4 tỷ đồng, cho thấy nguồn tiền khách hàng ứng trước gần như đã được ghi nhận hết vào doanh thu trong kỳ.

Tại ngày 30/6/2026, hàng tồn kho của SJ Group đạt 4.384,2 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cuối năm 2025. Trong đó, dự án Khu đô thị mới Nam An Khánh ghi nhận giá trị tồn kho 4.321,8 tỷ đồng, tăng khoảng 134,5 tỷ đồng so với đầu năm và chiếm tới 98,6% tổng hàng tồn kho. Điều này cho thấy doanh nghiệp tiếp tục tập trung nguồn lực vào dự án trọng điểm, đồng thời lượng vốn đầu tư vẫn chủ yếu nằm tại Nam An Khánh.

Bên cạnh lượng vốn lớn tập trung tại hàng tồn kho, SJ Group tiếp tục phân bổ nguồn lực cho các dự án đang trong giai đoạn đầu tư. Theo đó, chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang dài hạn đạt 2.625,8 tỷ đồng, tăng gần 185 tỷ đồng so với cuối năm 2025, chủ yếu tại các dự án Khu đô thị mới Hòa Hải - Đà Nẵng, Văn La - Hà Đông. Ngoài ra, SJ Group tiếp tục phân bổ vốn vào các dự án Khu đô thị Mỹ Đình - Mễ Trì, Tiến Xuân, Khu đô thị mới Nam An Khánh mở rộng và Khu đô thị Thịnh Lang - Hòa Bình.

Để triển khai các dự án, tại ngày 30/6/2026, tổng dư nợ vay của SJ Group đạt gần 1.298 tỷ đồng, tăng 20,9% so với cuối năm 2025. Trong đó, vay dài hạn đạt 962 tỷ đồng, tăng 32,1%, còn vay ngắn hạn duy trì ở mức 335,9 tỷ đồng.

Trước đó, đầu năm 2026, doanh nghiệp đã phê duyệt phương án vay vốn tại VietABank - Chi nhánh Hà Nội để đầu tư dự án Khu nhà ở Văn La.

Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên, nhiều cổ đông đã chất vấn ban lãnh đạo SJ Group khi kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025 chỉ đạt từ 19 - 62% các chỉ tiêu đề ra, đồng thời bày tỏ lo ngại về khả năng hoàn thành kế hoạch năm 2026.

Phản hồi cổ đông, ban lãnh đạo cho biết trong năm 2026, công ty sẽ tập trung đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tại hai dự án trọng điểm Nam An Khánh và Văn La, đồng thời tiếp tục hoàn thiện công tác quy hoạch, phát triển sản phẩm tại dự án Tiến Xuân./.

Tiền thân là Công ty Đầu tư Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà (Sudico), SJ Group được thành lập năm 2001 và hoạt động trong lĩnh vực phát triển bất động sản. Doanh nghiệp là chủ đầu tư nhiều dự án lớn như: Khu đô thị mới Nam An Khánh, Nam An Khánh mở rộng, Khu nhà ở Văn La, Khu đô thị Tiến Xuân, Khu đô thị Hòa Hải (Đà Nẵng) và Khu du lịch sinh thái Sông Đà - Ngọc Vừng…
Anh Tú

Đọc thêm

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,800 ▼300K 139,800 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 135,800 ▼300K 139,800 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 135,800 ▼300K 139,800 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 135,800 ▼300K 139,800 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 135,800 ▼300K 139,800 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 135,800 ▼300K 139,800 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 ▼50K 14,000 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 13,700 ▼50K 14,000 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 13,700 ▼50K 14,000 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 ▼50K 14,000 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 ▼50K 14,000 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 ▼50K 14,000 ▼150K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,240 ▼150K 13,840 ▼150K
Trang sức 99.99 13,250 ▼150K 13,850 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 ▼1238K 14,002 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 ▼1238K 14,003 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 136 ▼1229K 1,395 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 136 ▼1229K 1,396 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 138 ▼1247K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 ▼495K 136,634 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 ▼84849K 10,366 ▼93669K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 ▼340K 93,999 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 ▼305K 84,338 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 ▼292K 80,612 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 ▲43091K 57,702 ▲51911K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1238K 140 ▼1K
Cập nhật: 04/08/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17907 18181 18762
CAD 18180 18456 19073
CHF 31792 32173 32815
CNY 0 3848 3941
EUR 29621 29842 30920
GBP 34486 34878 35822
HKD 0 3220 3422
JPY 159 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15111 15694
SGD 19949 20231 20797
THB 701 765 818
USD (1,2) 26018 0 0
USD (5,10,20) 26059 0 0
USD (50,100) 26088 26097 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,660 29,684 31,088
JPY 162.14 162.43 172.25
GBP 34,661 34,755 35,955
AUD 18,101 18,166 18,857
CAD 18,365 18,424 19,102
CHF 32,050 32,150 33,088
SGD 20,069 20,131 20,928
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 17 17.73 19.29
THB 749.61 758.87 812.65
NZD 15,089 15,229 15,678
SEK - 2,702 2,797
DKK - 3,979 4,119
NOK - 2,710 2,806
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,995.34 - 6,765.93
TWD 733.04 - 887.4
SAR - 6,880.26 7,247.04
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26080 26080 26480
AUD 18039 18139 19062
CAD 18353 18453 19468
CHF 32017 32047 33633
CNY 3830.8 3855.8 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29776 29806 31531
GBP 34765 34815 36568
HKD 0 3355 0
JPY 163.24 163.74 174.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15215 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20099 20229 20953
THB 0 731.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13700000 13700000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/08/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80