Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 29 ngân hàng đạt 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, Vietcombank tiếp tục giữ "ngôi vương" lợi nhuận, VPBank lần đầu lọt Top 5 nhờ lãi tăng cao nhất nhóm ngân hàng lớn. Ngược lại, 6/29 nhà băng hụt hơi lợi nhuận. Bảng xếp hạng lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2026 có nhiều xáo trộn.
aa
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược” Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

“Big 4” vẫn áp đảo, VPBank lần đầu vào Top 5

Theo dữ liệu tổng hợp của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, 29 ngân hàng (gồm 27 ngân hàng niêm yết cùng Agribank và PVcomBank) ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ, tương đương tăng thêm hơn 39.200 tỷ đồng. Chỉ 6/29 ngân hàng có lợi nhuận đi lùi, còn phần lớn vẫn duy trì tăng trưởng.

Nhóm ngân hàng “big 4” gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank tiếp tục đóng vai trò “đầu kéo”, với tổng lợi nhuận trước thuế khoảng 92.500 tỷ đồng, chiếm 41,2% tổng lợi nhuận nhóm khảo sát. Quy mô lợi nhuận lớn giúp nhóm này tiếp tục chi phối bức tranh lợi nhuận của toàn ngành, trong khi khoảng cách với phần còn lại vẫn khá xa.

Trong đó, có 3 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 20.000 tỷ đồng gồm: Vietcombank (29.222,4 tỷ đồng), VietinBank (25.868,1 tỷ đồng) và MB (20.188,3 tỷ đồng).

Nhóm lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng tiếp tục mở rộng với BIDV (19.804,5 tỷ đồng), VPBank (18.880 tỷ đồng), Techcombank (18.540 tỷ đồng), Agribank (18.494,6 tỷ đồng), HDBank (13.202 tỷ đồng) và ACB (10.735 tỷ đồng). Đây cũng là nhóm đóng góp phần lớn mức tăng trưởng lợi nhuận của toàn ngành.

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), lợi nhuận trước thuế của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh tăng 30% so với cùng kỳ năm trước, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn tăng 14%.

Ngược lại, nhóm ngân hàng quy mô trung bình giảm 7%. Nhóm ngân hàng quy mô nhỏ tăng 60%, nhưng chủ yếu do nền so sánh thấp.

Xét về biến động thứ hạng lợi nhuận trước thuế trong 6 tháng đầu năm 2026, nhóm dẫn đầu có một số thay đổi đáng chú ý.

Đồ họa: Ánh Tuyết

VietcombankVietinBank tiếp tục giữ vững hai vị trí cao nhất, với lợi nhuận lần lượt đạt 29.222,4 tỷ đồng và 25.868,1 tỷ đồng.

Sở dĩ Vietcombank tiếp tục giữ vững “ngôi vương” lợi nhuận, là nhờ duy trì nền tảng kinh doanh cốt lõi vững chắc và chất lượng tài sản vượt trội. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Vietcombank đứng thứ 2 toàn hệ thống về thu nhập lãi thuần với 36.792,8 tỷ đồng và tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 47.551,4 tỷ đồng.

Đáng chú ý, Vietcombank chỉ xếp thứ 15 về chi phí dự phòng rủi ro tín dụng với gần 500 tỷ đồng và duy trì mức trích lập tương đối thấp so với nhiều quý gần đây. Điều này phản ánh chất lượng tài sản tốt, giúp áp lực dự phòng thấp hơn nhiều ngân hàng khác và tạo nền tảng để Vietcombank tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu về lợi nhuận trước thuế.

MB vươn từ vị trí thứ 4 lên thứ 3 với 20.188,3 tỷ đồng, vượt BIDV (19.804,5 tỷ đồng).

Trong khi đó, VPBank tăng mạnh 2 bậc, từ vị trí thứ 7 lên thứ 5 với lợi nhuận trước thuế đạt 18.880 tỷ đồng. Mức tăng trưởng 68,1% - cao nhất trong nhóm ngân hàng quy mô lớn - đã giúp VPBank lần đầu vươn lên Top 5 lợi nhuận, vượt Techcombank, qua đó đẩy ngân hàng này xuống vị trí thứ 6.

VPBank hiện diện trong Top 5 lợi nhuận nhờ tăng trưởng mạnh nguồn thu từ hoạt động cốt lõi. Riêng quý II/2026, lợi nhuận trước thuế đạt gần 11.000 tỷ đồng - mức cao nhất trong lịch sử của VPBank.

Trong 6 tháng đầu năm, VPBank đứng thứ 3 về thu nhập lãi thuần với 34.934,1 tỷ đồng và thứ 4 về TOI, đạt 43.391,8 tỷ đồng. Dù tiếp tục dẫn đầu hệ thống về chi phí dự phòng rủi ro tín dụng với 15.579,5 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế của VPBank vẫn tăng 68,1%, giúp ngân hàng tăng 2 bậc và lần đầu góp mặt trong Top 5.

Trong nhóm “big 4”, Agribank cũng lùi một bậc xuống thứ 7.

Ở nhóm còn lại, ABBankVietBank cùng cải thiện mạnh nhất khi tăng 3 bậc; VIB, TPBank và NCB tăng 2 bậc; HDBank, LPBank, MSB, Nam A Bank, KienlongBank và PVcomBank tăng 1 bậc, trong khi SHB và VietABank giữ nguyên thứ hạng.

4 động lực thúc đẩy lợi nhuận

Theo đánh giá của nhóm phân tích VDSC, qua 6 tháng, các ngân hàng niêm yết đã hoàn thành khoảng 47% kế hoạch lợi nhuận trước thuế cả năm 2026.

Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh hoàn thành 52% kế hoạch, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ đạt 78%, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn đạt 46%, còn nhóm ngân hàng quy mô trung bình mới hoàn thành 35%.

Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn

Chỉ rõ động lực tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của toàn ngành, nhóm phân tích của VDSC cho rằng, thứ nhất, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống đạt 8,3% so với cuối năm 2025, tương đương 17,4% so với cùng kỳ năm trước; riêng nhóm ngân hàng niêm yết tăng 9,1%, qua đó, giúp thu nhập lãi thuần 6 tháng đầu năm duy trì mức tăng khoảng 17%.

Thứ hai, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 49.000 tỷ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ.

Thứ ba, thu nhập khác đạt hơn 28.000 tỷ đồng, tăng 31%, nổi bật với các khoản thu nhập mang tính một lần tại Vietcombank và HDBank.

Thứ tư, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động (CIR) giảm xuống 31,1%, từ mức 32,1% của cả năm 2025, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động.

Đối với 11 ngân hàng trong danh mục theo dõi của VDSC, tổng lợi nhuận trước thuế quý II/2026 đạt 91.294 tỷ đồng, vượt 10% so với dự báo trước đó.

Những ngân hàng vượt kỳ vọng nhiều nhất gồm: Vietcombank (nhờ thu nhập khác tăng đột biến từ đánh giá lại khoản đầu tư); VPBank (nhờ tăng trưởng tín dụng vượt dự báo); MB (nhờ biên lãi thuần và chi phí tín dụng tích cực hơn kỳ vọng); HDBank (nhờ ghi nhận thu nhập từ đánh giá lại khoản đầu tư vào Công ty cổ phần Chứng khoán HD - HDS).

Ở chiều ngược lại, MSB không đạt kỳ vọng do thu nhập ngoài lãi thấp hơn dự báo; ACB không đạt kỳ vọng do chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng cao khi nợ xấu hình thành ròng tiếp tục tăng so với quý trước. Ngoài ra, OCB, VIB và VietinBank cũng có kết quả thấp hơn nhẹ so với dự báo./.

6 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận “đi lùi”

Trong nhóm ngân hàng được khảo sát, có 6/29 nhà băng ghi nhận lợi nhuận “đi lùi” trong nửa đầu năm 2026 và phần lớn đều đánh mất vị thế trên bảng xếp hạng.

Trong đó, Saigonbank giảm mạnh nhất (72,4%), còn 48,2 tỷ đồng, lùi 1 bậc; SACOMBANK giảm 43,6%, còn 4.136,1 tỷ đồng, tụt 3 bậc xuống vị trí thứ 14; Bac A Bank giảm 6,7%, còn 626,3 tỷ đồng, lùi 2 bậc xuống thứ 26...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Hà Nội - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Miền Tây - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,790 ▲10K 14,390 ▲10K
Trang sức 99.99 13,800 ▲10K 14,400 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1K 14,432 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1K 14,433 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1K 1,438 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1K 1,439 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1K 1,423 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲99K 140,891 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲75K 106,886 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲68K 96,924 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲61K 86,962 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲58K 83,119 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲42K 59,495 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cập nhật: 18/08/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18070 18345 18924
CAD 18341 18617 19234
CHF 31588 31968 32616
CNY 0 3830 3940
EUR 29673 29895 30979
GBP 34605 34997 35938
HKD 0 3207 3410
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15671
SGD 19948 20230 20801
THB 707 770 823
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18250 18350 19281
CAD 18525 18625 19639
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.6 3847.6 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29855 29885 31610
GBP 34920 34970 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20966
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,008 26,058 26,380
USD20 25,958 26,058 26,809
USD1 25,908 26,058 26,859
AUD 18,289 18,389 19,494
EUR 29,643 29,743 31,399
CAD 18,468 18,568 19,880
SGD 20,182 20,332 20,886
JPY 160.9 162.4 167.93
GBP 34,798 34,948 36,023
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/08/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80