Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 29 ngân hàng đạt 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, Vietcombank tiếp tục giữ "ngôi vương" lợi nhuận, VPBank lần đầu lọt Top 5 nhờ lãi tăng cao nhất nhóm ngân hàng lớn. Ngược lại, 6/29 nhà băng hụt hơi lợi nhuận. Bảng xếp hạng lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2026 có nhiều xáo trộn.
aa
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược” Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

“Big 4” vẫn áp đảo, VPBank lần đầu vào Top 5

Theo dữ liệu tổng hợp của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, 29 ngân hàng (gồm 27 ngân hàng niêm yết cùng Agribank và PVcomBank) ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ, tương đương tăng thêm hơn 39.200 tỷ đồng. Chỉ 6/29 ngân hàng có lợi nhuận đi lùi, còn phần lớn vẫn duy trì tăng trưởng.

Nhóm ngân hàng “big 4” gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank tiếp tục đóng vai trò “đầu kéo”, với tổng lợi nhuận trước thuế khoảng 92.500 tỷ đồng, chiếm 41,2% tổng lợi nhuận nhóm khảo sát. Quy mô lợi nhuận lớn giúp nhóm này tiếp tục chi phối bức tranh lợi nhuận của toàn ngành, trong khi khoảng cách với phần còn lại vẫn khá xa.

Trong đó, có 3 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 20.000 tỷ đồng gồm: Vietcombank (29.222,4 tỷ đồng), VietinBank (25.868,1 tỷ đồng) và MB (20.188,3 tỷ đồng).

Nhóm lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng tiếp tục mở rộng với BIDV (19.804,5 tỷ đồng), VPBank (18.880 tỷ đồng), Techcombank (18.540 tỷ đồng), Agribank (18.494,6 tỷ đồng), HDBank (13.202 tỷ đồng) và ACB (10.735 tỷ đồng). Đây cũng là nhóm đóng góp phần lớn mức tăng trưởng lợi nhuận của toàn ngành.

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), lợi nhuận trước thuế của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh tăng 30% so với cùng kỳ năm trước, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn tăng 14%.

Ngược lại, nhóm ngân hàng quy mô trung bình giảm 7%. Nhóm ngân hàng quy mô nhỏ tăng 60%, nhưng chủ yếu do nền so sánh thấp.

Xét về biến động thứ hạng lợi nhuận trước thuế trong 6 tháng đầu năm 2026, nhóm dẫn đầu có một số thay đổi đáng chú ý.

Đồ họa: Ánh Tuyết

VietcombankVietinBank tiếp tục giữ vững hai vị trí cao nhất, với lợi nhuận lần lượt đạt 29.222,4 tỷ đồng và 25.868,1 tỷ đồng.

Sở dĩ Vietcombank tiếp tục giữ vững “ngôi vương” lợi nhuận, là nhờ duy trì nền tảng kinh doanh cốt lõi vững chắc và chất lượng tài sản vượt trội. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Vietcombank đứng thứ 2 toàn hệ thống về thu nhập lãi thuần với 36.792,8 tỷ đồng và tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 47.551,4 tỷ đồng.

Đáng chú ý, Vietcombank chỉ xếp thứ 15 về chi phí dự phòng rủi ro tín dụng với gần 500 tỷ đồng và duy trì mức trích lập tương đối thấp so với nhiều quý gần đây. Điều này phản ánh chất lượng tài sản tốt, giúp áp lực dự phòng thấp hơn nhiều ngân hàng khác và tạo nền tảng để Vietcombank tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu về lợi nhuận trước thuế.

MB vươn từ vị trí thứ 4 lên thứ 3 với 20.188,3 tỷ đồng, vượt BIDV (19.804,5 tỷ đồng).

Trong khi đó, VPBank tăng mạnh 2 bậc, từ vị trí thứ 7 lên thứ 5 với lợi nhuận trước thuế đạt 18.880 tỷ đồng. Mức tăng trưởng 68,1% - cao nhất trong nhóm ngân hàng quy mô lớn - đã giúp VPBank lần đầu vươn lên Top 5 lợi nhuận, vượt Techcombank, qua đó đẩy ngân hàng này xuống vị trí thứ 6.

VPBank hiện diện trong Top 5 lợi nhuận nhờ tăng trưởng mạnh nguồn thu từ hoạt động cốt lõi. Riêng quý II/2026, lợi nhuận trước thuế đạt gần 11.000 tỷ đồng - mức cao nhất trong lịch sử của VPBank.

Trong 6 tháng đầu năm, VPBank đứng thứ 3 về thu nhập lãi thuần với 34.934,1 tỷ đồng và thứ 4 về TOI, đạt 43.391,8 tỷ đồng. Dù tiếp tục dẫn đầu hệ thống về chi phí dự phòng rủi ro tín dụng với 15.579,5 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế của VPBank vẫn tăng 68,1%, giúp ngân hàng tăng 2 bậc và lần đầu góp mặt trong Top 5.

Trong nhóm “big 4”, Agribank cũng lùi một bậc xuống thứ 7.

Ở nhóm còn lại, ABBankVietBank cùng cải thiện mạnh nhất khi tăng 3 bậc; VIB, TPBank và NCB tăng 2 bậc; HDBank, LPBank, MSB, Nam A Bank, KienlongBank và PVcomBank tăng 1 bậc, trong khi SHB và VietABank giữ nguyên thứ hạng.

4 động lực thúc đẩy lợi nhuận

Theo đánh giá của nhóm phân tích VDSC, qua 6 tháng, các ngân hàng niêm yết đã hoàn thành khoảng 47% kế hoạch lợi nhuận trước thuế cả năm 2026.

Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh hoàn thành 52% kế hoạch, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ đạt 78%, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn đạt 46%, còn nhóm ngân hàng quy mô trung bình mới hoàn thành 35%.

Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn

Chỉ rõ động lực tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của toàn ngành, nhóm phân tích của VDSC cho rằng, thứ nhất, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống đạt 8,3% so với cuối năm 2025, tương đương 17,4% so với cùng kỳ năm trước; riêng nhóm ngân hàng niêm yết tăng 9,1%, qua đó, giúp thu nhập lãi thuần 6 tháng đầu năm duy trì mức tăng khoảng 17%.

Thứ hai, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 49.000 tỷ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ.

Thứ ba, thu nhập khác đạt hơn 28.000 tỷ đồng, tăng 31%, nổi bật với các khoản thu nhập mang tính một lần tại Vietcombank và HDBank.

Thứ tư, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động (CIR) giảm xuống 31,1%, từ mức 32,1% của cả năm 2025, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động.

Đối với 11 ngân hàng trong danh mục theo dõi của VDSC, tổng lợi nhuận trước thuế quý II/2026 đạt 91.294 tỷ đồng, vượt 10% so với dự báo trước đó.

Những ngân hàng vượt kỳ vọng nhiều nhất gồm: Vietcombank (nhờ thu nhập khác tăng đột biến từ đánh giá lại khoản đầu tư); VPBank (nhờ tăng trưởng tín dụng vượt dự báo); MB (nhờ biên lãi thuần và chi phí tín dụng tích cực hơn kỳ vọng); HDBank (nhờ ghi nhận thu nhập từ đánh giá lại khoản đầu tư vào Công ty cổ phần Chứng khoán HD - HDS).

Ở chiều ngược lại, MSB không đạt kỳ vọng do thu nhập ngoài lãi thấp hơn dự báo; ACB không đạt kỳ vọng do chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng cao khi nợ xấu hình thành ròng tiếp tục tăng so với quý trước. Ngoài ra, OCB, VIB và VietinBank cũng có kết quả thấp hơn nhẹ so với dự báo./.

6 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận “đi lùi”

Trong nhóm ngân hàng được khảo sát, có 6/29 nhà băng ghi nhận lợi nhuận “đi lùi” trong nửa đầu năm 2026 và phần lớn đều đánh mất vị thế trên bảng xếp hạng.

Trong đó, Saigonbank giảm mạnh nhất (72,4%), còn 48,2 tỷ đồng, lùi 1 bậc; SeABank giảm 54,6%, còn 2.625,4 tỷ đồng, tụt 5 bậc xuống vị trí thứ 18; SACOMBANK giảm 43,6%, còn 4.136,1 tỷ đồng, tụt 3 bậc xuống vị trí thứ 14; Bac A Bank giảm 6,7%, còn 626,3 tỷ đồng, lùi 2 bậc xuống thứ 26...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

(TBTCO) - Tín dụng bất động sản tiếp đà tăng trưởng nửa đầu năm 2026, nhưng phân hóa rõ giữa các phân khúc và chiến lược giải ngân từng ngân hàng. Nhà điều hành kiên định kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, song ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực thiết yếu, hướng thị trường từ đầu cơ ngắn hạn sang an cư, phát triển bền vững.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,050 ▼100K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,360 ▼30K 13,960 ▼30K
Trang sức 99.99 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,052 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,053 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 140 ▼1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,401 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1201K 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cập nhật: 04/08/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17930 18204 18783
CAD 18170 18446 19065
CHF 31775 32156 32805
CNY 0 3848 3941
EUR 29606 29827 30908
GBP 34499 34890 35828
HKD 0 3218 3420
JPY 159 163 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15131 15716
SGD 19924 20206 20781
THB 702 765 818
USD (1,2) 25998 0 0
USD (5,10,20) 26039 0 0
USD (50,100) 26068 26077 26447
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,638 29,662 31,065
JPY 161.92 162.21 172
GBP 34,663 34,757 35,954
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,355 18,414 19,092
CHF 32,029 32,129 33,079
SGD 20,041 20,103 20,889
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.91 17.63 19.18
THB 749.71 758.97 812.52
NZD 15,082 15,222 15,671
SEK - 2,700 2,795
DKK - 3,975 4,115
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.67 - 6,764.12
TWD 731.12 - 885.63
SAR - 6,874.63 7,240.41
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 18098 18198 19123
CAD 18357 18457 19471
CHF 32009 32039 33621
CNY 3828.7 3853.7 3989.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29769 29799 31522
GBP 34788 34838 36601
HKD 0 3355 0
JPY 162.77 163.27 173.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20078 20208 20931
THB 0 730.4 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14050000
SBJ 12500000 12500000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,480
USD20 26,060 26,160 26,599
USD1 24,111 26,160 26,649
AUD 18,141 18,241 19,348
EUR 29,593 29,693 31,349
CAD 18,310 18,410 19,716
SGD 20,183 20,333 20,945
JPY 163.73 165.23 170.76
GBP 34,678 34,828 35,890
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/08/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80