Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Thu Hương
(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
aa

Fed đã quyết định giữ nguyên lãi suất quỹ liên bang trong phạm vi 3,5 - 3,75% tại cuộc họp chính sách tháng 7. Đây là lần thứ 5 liên tiếp Fed duy trì lãi suất ở mức hiện tại.

Bình luận về quyết định này, ông Phạm Lưu Hưng - Kinh tế trưởng kiêm Giám đốc Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI Research cho biết, dù Fed không thay đổi lãi suất, cuộc họp vẫn thu hút sự chú ý khi có 3 thành viên của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) bỏ phiếu ủng hộ tăng lãi suất ngay trong kỳ họp. Diễn biến này cho thấy, những lo ngại về áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trong nội bộ Fed.

Theo ông Hưng, Chủ tịch Fed Kevin Warsh tiếp tục khẳng định mục tiêu đưa lạm phát trở về mức 2%, song không đưa ra định hướng cụ thể về điều kiện hay thời điểm có thể điều chỉnh lãi suất trong thời gian tới. Fed sẽ tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận hạn chế sử dụng các tín hiệu định hướng chính sách (forward guidance), thay vào đó, đưa ra quyết định dựa trên các dữ liệu kinh tế được cập nhật tại từng kỳ họp.

Điều này khiến khả năng dự báo lộ trình chính sách của Fed trở nên khó khăn hơn, đồng thời làm gia tăng mức độ bất định, buộc nhà đầu tư yêu cầu phần bù rủi ro cao hơn. Cùng với đó, áp lực từ thâm hụt ngân sách của Mỹ và nhu cầu phát hành trái phiếu quy mô lớn tiếp tục hỗ trợ mặt bằng lợi suất trái phiếu kỳ hạn dài.

Chuyên gia của SSI Research nhận định, trong ngắn hạn, chỉ số chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) dự kiến công bố trong ngày sẽ là yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ phù hợp của quyết định giữ nguyên lãi suất của Fed. Nếu lạm phát tiếp tục hạ nhiệt, lập trường thận trọng và chờ thêm dữ liệu của Fed sẽ được củng cố. Ngược lại, nếu PCE vẫn duy trì ở mức cao, thị trường có thể cho rằng Fed phản ứng chậm trước rủi ro lạm phát, từ đó ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư đối với định hướng chính sách tiền tệ.

Đối với Việt Nam, ông Hưng cho rằng, cần theo dõi chặt chẽ khả năng Fed tăng lãi suất trong giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 12/2026. Mặc dù áp lực lên tỷ giá hiện chưa quá lớn khi đồng USD vẫn ở trạng thái tương đối yếu, song diễn biến của dòng vốn quốc tế có thể trở nên nhạy cảm hơn.

Tuy vậy, theo ông Hưng, năm 2026, các động lực chính của tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đến từ những yếu tố nội tại như tăng trưởng tín dụng, đẩy mạnh đầu tư công, sự phục hồi của thị trường bất động sản và quá trình cải cách thể chế.

“Các yếu tố bên ngoài có thể tạo ra biến động trong ngắn hạn, nhưng khó làm thay đổi xu hướng cơ bản của nền kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam” - ông Hưng nhấn mạnh./.

Thu Hương

Đọc thêm

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

(TBTCO) - Thời điểm hiện tại, dù lãi suất huy động được niêm yết cao nhất chỉ quanh 7%/năm, song nhiều ngân hàng "đua ngầm" cộng lãi, cộng thưởng, đưa lãi suất tiết kiệm ưu đãi lên tới 12%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mặt bằng lãi suất đã gần đỉnh, nhưng khó giảm trong nửa cuối năm 2026.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,850 ▲100K 14,250 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,850 ▲100K 14,250 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,850 ▲100K 14,250 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▲50K 14,250 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▲50K 14,250 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▲50K 14,250 ▲50K
NL 99.99 12,950
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,440 ▲50K 14,140 ▲50K
Trang sức 99.99 13,450 ▲50K 14,150 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,385 ▲10K 14,252 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,385 ▲10K 14,253 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 138 ▲1K 142 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 138 ▲1K 1,421 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 135 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,614 ▲990K 138,614 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,361 ▲85900K 105,161 ▲94720K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,556 ▼76323K 9,536 ▼85143K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,759 ▲611K 85,559 ▲611K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,978 ▲583K 81,778 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,736 ▲417K 58,536 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Cập nhật: 30/07/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17760 18033 18608
CAD 18193 18469 19081
CHF 31606 31986 32646
CNY 0 3851 3943
EUR 29497 29718 30794
GBP 34315 34706 35636
HKD 0 3224 3426
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14970 15552
SGD 19856 20138 20708
THB 700 763 816
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26123 26487
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,594 29,618 31,032
JPY 156.66 156.94 166.4
GBP 34,513 34,606 35,808
AUD 17,973 18,038 18,724
CAD 18,388 18,447 19,128
CHF 31,899 31,998 32,947
SGD 19,989 20,051 20,844
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.8 17.52 19.06
THB 749.19 758.44 811.93
NZD 14,962 15,101 15,552
SEK - 2,680 2,774
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,694 2,790
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.16 - 6,796.06
TWD 732.98 - 887.86
SAR - 6,893.38 7,259.92
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,601 29,720 30,915
GBP 34,533 34,672 35,702
HKD 3,288 3,301 3,418
CHF 31,771 31,899 32,820
JPY 156.99 157.62 165.54
AUD 17,975 18,047 18,642
SGD 20,066 20,147 20,738
THB 767 770 806
CAD 18,409 18,483 19,064
NZD 15,027 15,572
KRW 17.45 19.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26505
AUD 17968 18068 18991
CAD 18380 18480 19495
CHF 31884 31914 33500
CNY 3831.7 3856.7 3992.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29694 29724 31449
GBP 34633 34683 36452
HKD 0 3355 0
JPY 157.45 157.95 168.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15073 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20024 20154 20885
THB 0 730.8 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13850000 13850000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,142 26,192 26,530
USD20 26,092 26,192 26,536
USD1 24,054 26,192 26,586
AUD 18,008 18,108 19,223
EUR 29,488 29,588 31,261
CAD 18,330 18,430 19,748
SGD 20,103 20,253 20,824
JPY 157.91 159.41 165.04
GBP 34,532 34,682 35,920
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/07/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80