Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Giải “cơn khát” vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Doanh số vay “nóng” vượt 1 triệu tỷ đồng, tức tốc bơm thanh khoản

Trong tuần từ ngày 29/6 - 3/7, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều tiết thanh khoản mạnh qua kênh thị trường mở (OMO).

Cụ thể, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 69.077,2 tỷ đồng, chủ yếu ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày; lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức cao, lên tới 59.529,8 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 9.547,4 tỷ đồng ra thị trường qua kênh OMO, nối tiếp đà bơm ròng khoảng 4.000 tỷ đồng của tuần liền trước, cho thấy nhà điều hành vẫn duy trì trạng thái hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 239.199,38 tỷ đồng.

Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt, đặc biệt vào thời điểm cuối tháng. Đáng chú ý, trong phiên 30/6, Ngân hàng Nhà nước đã bơm mạnh 31.551,1 tỷ đồng, trùng với giai đoạn thanh khoản hệ thống căng thẳng nhất khi doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vượt 1,1 triệu tỷ đồng kỳ hạn qua đêm.

Cùng thời điểm, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng vọt lên 12,49%/năm, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng đột biến, chủ yếu do áp lực chốt sổ cuối tháng, cuối quý.

Sau khi được bơm thanh khoản, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt đáng kể. Chốt phiên 2/7, lãi suất qua đêm giảm xuống 6,62%/năm, giảm 3,71 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tuần giảm còn 6,92%/năm (giảm 0,43 điểm phần trăm), kỳ hạn 2 tuần xuống 7,07%/năm (giảm 0,65 điểm phần trăm) và kỳ hạn 3 tháng giảm còn 7,7%/năm (giảm 0,49 điểm phần trăm). Riêng kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ lên 7,88%/năm, tăng 0,31 điểm phần trăm.

Lãi suất có thể đã tạo đỉnh, nhưng chưa dễ đảo chiều

“Với các động thái hỗ trợ thanh khoản và tăng trưởng tín dụng gần đây, chúng tôi cho rằng, khả năng mặt bằng lãi suất đã ở vùng đỉnh. Tuy nhiên, xu hướng đảo chiều vẫn cần thêm thời gian và phụ thuộc vào tốc độ cải thiện của huy động vốn, tín dụng, hoạt động điều tiết của Ngân hàng Nhà nước” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Nhìn chung, dù áp lực thanh khoản đã dịu bớt sau nhịp bơm vốn mạnh từ Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn neo ở mức cao, cho thấy thanh khoản VND trong hệ thống chưa thực sự trở lại trạng thái dồi dào.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, sau 2 tháng liên tiếp bơm ròng, Ngân hàng Nhà nước đã quay trở lại hút ròng hệ thống trong tháng 6 hơn 86,9 nghìn tỷ đồng.

Đến cuối tháng, lãi suất qua đêm quay đầu tăng trở lại, do yếu tố mùa vụ khi áp lực thanh khoản thường tăng vào tháng cuối quý - thời điểm các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng các khoản thanh toán nhằm phục vụ cho việc chuẩn bị báo cáo tài chính.

Còn theo Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), dù Ngân hàng Nhà nước đã quay lại bơm ròng nhẹ và lãi suất qua đêm giảm nhanh, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 1 tuần - 9 tháng vẫn neo ở vùng cao, cho thấy các ngân hàng thận trọng trong cân đối nguồn vốn trung hạn, nhất là khi tăng trưởng tín dụng đang nhanh hơn tăng trưởng huy động.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT NHNN, nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Đây là một biện pháp kỹ thuật giúp giải tỏa phần nào áp lực nguồn vốn trung - dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Ngoài ra, cũng có nhiều thông tin hỗ trợ cho tín dụng và áp lực lãi suất như: Văn bản số 5386/NHNN-TD mở cơ chế tín dụng đặc biệt cho 18 dự án trọng điểm; Nghị quyết số 168/NQ-CP yêu cầu Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu tăng tiền gửi Kho bạc tại ngân hàng; Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước theo hướng linh hoạt hơn.

Tỷ giá chính thức vẫn “leo dốc”, USD tự do hạ nhiệt

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp đà tăng trên thị trường chính thức, song hạ nhiệt ở thị trường tự do.

Cụ thể, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 8 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.203 đồng chốt phiên 3/7, nối tiếp đà tăng tuần thứ 8, cho thấy áp lực lên tỷ giá chính thức vẫn còn.

Chung diễn biến tỷ giá trung tâm, tỷ giá USD tại các ngân hàng tăng tương ứng. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.073 - 26.463 VND/USD, trong đó chiều mua vào giảm 11 đồng, chiều bán ra tăng 9 đồng so với cuối tuần trước. Tương tự tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.083 - 26.463 VND/USD, với giá mua vào giảm mạnh 51 đồng, còn giá bán ra tăng 9 đồng.

Trên thị trường tự do, khi tỷ giá USD giảm 20 đồng chiều mua và 30 đồng chiều bán, xuống 26.580 - 26.610 VND/USD, trái ngược hoàn toàn với mức tăng 100 đồng của tuần trước.

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lùi nhẹ 0,05% xuống 100,82 điểm.

Kỳ vọng Fed tăng lãi suất giảm rõ rệt sau dữ liệu việc làm yếu

Ngân hàng MUFG lưu ý quan điểm trước đây của 9 thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) về sự cần thiết phải tăng lãi suất thêm ít nhất 1 lần hiện không còn thuyết phục như trước, do thị trường lao động đã yếu hơn đáng kể. Thị trường hiện chỉ còn đánh giá khoảng 20% khả năng Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản trong cuộc họp ngày 29/7 và khoảng 60% khả năng tăng lãi suất vào tháng 9.

Ngân hàng MUFG (Nhật Bản) cho rằng, dữ liệu thị trường lao động Mỹ suy yếu đang buộc thị trường phải định giá lại triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Thay vì kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất, nhà đầu tư đang chuyển dần sang kịch bản nguy cơ Fed cắt giảm lãi suất cao hơn.

Theo MUFG, báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 6 là chất xúc tác quan trọng cho sự thay đổi này. Trước đó, thị trường từng định giá gần hai lần tăng lãi suất của Fed từ nay đến tháng 3/2027, song kịch bản này hiện bị đánh giá là quá “diều hâu” và kém thực tế hơn.

Đại diện Ngân hàng MUFG nhấn mạnh, xu hướng tăng trưởng việc làm chậm lại, cùng với sự suy yếu của các chỉ số tâm lý kinh tế và việc rủi ro lạm phát giảm bớt, đang làm suy yếu cơ sở để Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

Từ đó, MUFG dự báo, Fed nhiều khả năng duy trì chính sách hiện tại, trong khi đà tăng gần đây của đồng USD có thể suy yếu hoặc điều chỉnh giảm.

Theo nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta, trong ngắn hạn, USD/VND tại kênh ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục đi ngang đến nhích nhẹ nếu DXY duy trì trên vùng 101 điểm.

“Tuy nhiên, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương và Ngân hàng Nhà nước còn dư địa điều tiết thanh khoản nên áp lực không lớn. Ngoài ra, dự thảo sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối kỳ vọng sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước có thêm công cụ và linh hoạt hơn trong việc điều tiết thị trường ngoại hối và ổn định tỷ giá” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm./

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 146,500
Hà Nội - PNJ 142,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 142,500 146,500
Miền Tây - PNJ 142,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 142,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 14,750
Miếng SJC Nghệ An 14,450 14,750
Miếng SJC Thái Bình 14,450 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,340 14,690
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,340 14,690
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,340 14,690
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,880 14,580
Trang sức 99.99 13,890 14,590
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 14,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 14,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,466
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cập nhật: 20/07/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17818 18092 18679
CAD 18218 18494 19113
CHF 31910 32291 32944
CNY 0 3838 3932
EUR 29444 29665 30746
GBP 34567 34960 35898
HKD 0 3222 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15643
SGD 19810 20092 20674
THB 696 759 814
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26490
AUD 17972 18072 19003
CAD 18386 18486 19502
CHF 32146 32176 33754
CNY 3819.3 3844.3 3979.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29619 29649 31374
GBP 34830 34880 36638
HKD 0 3355 0
JPY 158.41 158.91 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15128 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19983 20113 20840
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,105 26,155 26,516
USD20 26,105 26,155 26,516
USD1 23,992 26,155 26,516
AUD 17,950 18,064 19,244
EUR 29,350 29,450 31,199
CAD 18,250 18,350 19,751
SGD 20,001 20,150 20,783
JPY 158.24 159.74 166.01
GBP 34,650 34,806 35,967
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80