Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Giải “cơn khát” vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Doanh số vay “nóng” vượt 1 triệu tỷ đồng, tức tốc bơm thanh khoản

Trong tuần từ ngày 29/6 - 3/7, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều tiết thanh khoản mạnh qua kênh thị trường mở (OMO).

Cụ thể, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 69.077,2 tỷ đồng, chủ yếu ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày; lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức cao, lên tới 59.529,8 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 9.547,4 tỷ đồng ra thị trường qua kênh OMO, nối tiếp đà bơm ròng khoảng 4.000 tỷ đồng của tuần liền trước, cho thấy nhà điều hành vẫn duy trì trạng thái hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 239.199,38 tỷ đồng.

Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt, đặc biệt vào thời điểm cuối tháng. Đáng chú ý, trong phiên 30/6, Ngân hàng Nhà nước đã bơm mạnh 31.551,1 tỷ đồng, trùng với giai đoạn thanh khoản hệ thống căng thẳng nhất khi doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vượt 1,1 triệu tỷ đồng kỳ hạn qua đêm.

Cùng thời điểm, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng vọt lên 12,49%/năm, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng đột biến, chủ yếu do áp lực chốt sổ cuối tháng, cuối quý.

Sau khi được bơm thanh khoản, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt đáng kể. Chốt phiên 2/7, lãi suất qua đêm giảm xuống 6,62%/năm, giảm 3,71 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tuần giảm còn 6,92%/năm (giảm 0,43 điểm phần trăm), kỳ hạn 2 tuần xuống 7,07%/năm (giảm 0,65 điểm phần trăm) và kỳ hạn 3 tháng giảm còn 7,7%/năm (giảm 0,49 điểm phần trăm). Riêng kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ lên 7,88%/năm, tăng 0,31 điểm phần trăm.

Lãi suất có thể đã tạo đỉnh, nhưng chưa dễ đảo chiều

“Với các động thái hỗ trợ thanh khoản và tăng trưởng tín dụng gần đây, chúng tôi cho rằng, khả năng mặt bằng lãi suất đã ở vùng đỉnh. Tuy nhiên, xu hướng đảo chiều vẫn cần thêm thời gian và phụ thuộc vào tốc độ cải thiện của huy động vốn, tín dụng, hoạt động điều tiết của Ngân hàng Nhà nước” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Nhìn chung, dù áp lực thanh khoản đã dịu bớt sau nhịp bơm vốn mạnh từ Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn neo ở mức cao, cho thấy thanh khoản VND trong hệ thống chưa thực sự trở lại trạng thái dồi dào.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, sau 2 tháng liên tiếp bơm ròng, Ngân hàng Nhà nước đã quay trở lại hút ròng hệ thống trong tháng 6 hơn 86,9 nghìn tỷ đồng.

Đến cuối tháng, lãi suất qua đêm quay đầu tăng trở lại, do yếu tố mùa vụ khi áp lực thanh khoản thường tăng vào tháng cuối quý - thời điểm các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng các khoản thanh toán nhằm phục vụ cho việc chuẩn bị báo cáo tài chính.

Còn theo Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), dù Ngân hàng Nhà nước đã quay lại bơm ròng nhẹ và lãi suất qua đêm giảm nhanh, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 1 tuần - 9 tháng vẫn neo ở vùng cao, cho thấy các ngân hàng thận trọng trong cân đối nguồn vốn trung hạn, nhất là khi tăng trưởng tín dụng đang nhanh hơn tăng trưởng huy động.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT NHNN, nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Đây là một biện pháp kỹ thuật giúp giải tỏa phần nào áp lực nguồn vốn trung - dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Ngoài ra, cũng có nhiều thông tin hỗ trợ cho tín dụng và áp lực lãi suất như: Văn bản số 5386/NHNN-TD mở cơ chế tín dụng đặc biệt cho 18 dự án trọng điểm; Nghị quyết số 168/NQ-CP yêu cầu Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu tăng tiền gửi Kho bạc tại ngân hàng; Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước theo hướng linh hoạt hơn.

Tỷ giá chính thức vẫn “leo dốc”, USD tự do hạ nhiệt

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp đà tăng trên thị trường chính thức, song hạ nhiệt ở thị trường tự do.

Cụ thể, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 8 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.203 đồng chốt phiên 3/7, nối tiếp đà tăng tuần thứ 8, cho thấy áp lực lên tỷ giá chính thức vẫn còn.

Chung diễn biến tỷ giá trung tâm, tỷ giá USD tại các ngân hàng tăng tương ứng. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.073 - 26.463 VND/USD, trong đó chiều mua vào giảm 11 đồng, chiều bán ra tăng 9 đồng so với cuối tuần trước. Tương tự tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.083 - 26.463 VND/USD, với giá mua vào giảm mạnh 51 đồng, còn giá bán ra tăng 9 đồng.

Trên thị trường tự do, khi tỷ giá USD giảm 20 đồng chiều mua và 30 đồng chiều bán, xuống 26.580 - 26.610 VND/USD, trái ngược hoàn toàn với mức tăng 100 đồng của tuần trước.

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lùi nhẹ 0,05% xuống 100,82 điểm.

Kỳ vọng Fed tăng lãi suất giảm rõ rệt sau dữ liệu việc làm yếu

Ngân hàng MUFG lưu ý quan điểm trước đây của 9 thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) về sự cần thiết phải tăng lãi suất thêm ít nhất 1 lần hiện không còn thuyết phục như trước, do thị trường lao động đã yếu hơn đáng kể. Thị trường hiện chỉ còn đánh giá khoảng 20% khả năng Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản trong cuộc họp ngày 29/7 và khoảng 60% khả năng tăng lãi suất vào tháng 9.

Ngân hàng MUFG (Nhật Bản) cho rằng, dữ liệu thị trường lao động Mỹ suy yếu đang buộc thị trường phải định giá lại triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Thay vì kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất, nhà đầu tư đang chuyển dần sang kịch bản nguy cơ Fed cắt giảm lãi suất cao hơn.

Theo MUFG, báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 6 là chất xúc tác quan trọng cho sự thay đổi này. Trước đó, thị trường từng định giá gần hai lần tăng lãi suất của Fed từ nay đến tháng 3/2027, song kịch bản này hiện bị đánh giá là quá “diều hâu” và kém thực tế hơn.

Đại diện Ngân hàng MUFG nhấn mạnh, xu hướng tăng trưởng việc làm chậm lại, cùng với sự suy yếu của các chỉ số tâm lý kinh tế và việc rủi ro lạm phát giảm bớt, đang làm suy yếu cơ sở để Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

Từ đó, MUFG dự báo, Fed nhiều khả năng duy trì chính sách hiện tại, trong khi đà tăng gần đây của đồng USD có thể suy yếu hoặc điều chỉnh giảm.

Theo nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta, trong ngắn hạn, USD/VND tại kênh ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục đi ngang đến nhích nhẹ nếu DXY duy trì trên vùng 101 điểm.

“Tuy nhiên, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương và Ngân hàng Nhà nước còn dư địa điều tiết thanh khoản nên áp lực không lớn. Ngoài ra, dự thảo sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối kỳ vọng sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước có thêm công cụ và linh hoạt hơn trong việc điều tiết thị trường ngoại hối và ổn định tỷ giá” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm./

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị, chuẩn bị bước vào năm học mới, phụ huynh, học sinh, sinh viên chủ động kiểm tra giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế sau khi hoàn tất tham gia, nhằm kịp thời phát hiện và phản ánh nếu thông tin chưa được cập nhật hoặc chưa chính xác.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

(TBTCO) - Tham gia sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) giới thiệu hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số với hai điểm nhấn là ứng dụng LPBank Plus và giải pháp Lộc Phát Shop, qua đó khẳng định những bước tiến trong ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

(TBTCO) - NCB dự kiến phát hành riêng lẻ 3,3 tỷ cổ phiếu, huy động 33.000 tỷ đồng. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng lên gần 62.280 tỷ đồng, gấp 3,2 lần đầu năm 2026, đánh dấu 5 lần tăng vốn trong 6 năm và đưa NCB vào top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

(TBTCO) - Phát biểu tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026”, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, chuyển đổi số càng sâu, những vấn đề mới càng xuất hiện nhanh. Theo đó, toàn ngành cần tập trung 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới mạnh mẽ, nhưng có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
NL 99.99 13,650 ▲250K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲250K
Trang sức 99.9 13,960 ▲330K 14,560 ▲330K
Trang sức 99.99 13,970 ▲330K 14,570 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1254K 14,602 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1254K 14,603 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲33K 1,455 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲33K 1,456 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲33K 144 ▼1263K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲3267K 142,574 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲2475K 108,161 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼77208K 9,808 ▼86028K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲2013K 87,999 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼64955K 8,411 ▼73775K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲1376K 60,204 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Cập nhật: 20/08/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18054 18329 18908
CAD 18421 18698 19318
CHF 32110 32492 33133
CNY 0 3840 3950
EUR 29890 30112 31196
GBP 34803 35196 36129
HKD 0 3196 3399
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15231 15822
SGD 19993 20276 20846
THB 709 773 826
USD (1,2) 25833 0 0
USD (5,10,20) 25873 0 0
USD (50,100) 25901 25915 26285
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,960 25,960 26,340
USD(1-2-5) 24,922 - -
USD(10-20) 24,922 - -
EUR 29,940 29,964 31,383
JPY 160.53 160.82 170.53
GBP 34,958 35,053 36,265
AUD 18,273 18,339 19,032
CAD 18,594 18,654 19,343
CHF 32,301 32,401 33,349
SGD 20,141 20,204 20,996
CNY - 3,814 3,960
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.29 18.03 19.61
THB 759.44 768.82 823.14
NZD 15,225 15,366 15,818
SEK - 2,724 2,820
DKK - 4,015 4,157
NOK - 2,757 2,855
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,045.76 - 6,825.13
TWD 741.14 - 897.85
SAR - 6,845.36 7,210.07
KWD - 82,848 88,150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,995 30,115 31,314
GBP 34,971 35,111 36,149
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 32,179 32,308 33,251
JPY 161.15 161.80 169.78
AUD 18,288 18,361 18,960
SGD 20,225 20,306 20,904
THB 777 780 817
CAD 18,616 18,691 19,289
NZD 15,291 15,839
KRW 17.93 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26280
AUD 18251 18351 19274
CAD 18608 18708 19723
CHF 32385 32415 33993
CNY 3822.7 3847.7 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30100 30130 31855
GBP 35111 35161 36919
HKD 0 3330 0
JPY 161.3 161.8 172.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.1 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15348 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20161 20291 21013
THB 0 739 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 12500000 12500000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,977 26,027 26,340
USD20 25,927 26,027 26,819
USD1 25,877 26,027 26,869
AUD 18,322 18,422 19,530
EUR 29,916 30,016 31,676
CAD 18,568 18,668 19,976
SGD 20,272 20,422 21,058
JPY 162 163.5 169.07
GBP 35,031 35,181 36,244
XAU 14,298,000 0 14,602,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/08/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80