Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Hà My
Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
aa

Lương hưu tăng, người có mức hưởng thấp tiếp tục được hỗ trợ

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2026/NĐ-CP quy định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) và trợ cấp hằng tháng. Theo đó, từ ngày 1/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng được điều chỉnh tăng 8% so với mức hưởng của tháng 6/2026 đối với các đối tượng đang hưởng trước ngày 1/7/2026.

Đặc biệt, những người hưởng lương hưu hoặc trợ cấp trước ngày 1/1/1995 có mức hưởng thấp sẽ tiếp tục được hỗ trợ thêm sau khi tăng 8%, nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu.

Cụ thể, người có mức hưởng từ 3,5 triệu đồng/tháng trở xuống sẽ được cộng thêm 300.000 đồng/tháng. Người có mức hưởng trên 3,5 triệu đồng nhưng dưới 3,8 triệu đồng/tháng sẽ được điều chỉnh lên 3,8 triệu đồng/tháng.

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7
Vợ chồng Đỗ Tâm Thư (phường Thảo Điền, TP. Hồ Chí Minh) vui mừng khi nhận lương hưu tăng theo mức mới qua tài khoản ngân hàng ngay trong ngày 1/7/2026. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Việc điều chỉnh lần này không chỉ góp phần cải thiện thu nhập, hỗ trợ người hưởng trước tác động của biến động giá cả mà còn tiếp tục thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với những người đã có nhiều năm lao động, cống hiến cho sự phát triển của đất nước.

Ngay sau khi Nghị định được ban hành, BHXH Việt Nam đã khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp để bảo đảm công tác chi trả diễn ra thông suốt trên phạm vi cả nước. Toàn ngành chủ động rà soát dữ liệu người hưởng, cập nhật mức hưởng mới trên hệ thống phần mềm nghiệp vụ, chuẩn bị đầy đủ nguồn kinh phí và xây dựng phương án chi trả phù hợp đối với cả hình thức nhận qua tài khoản cá nhân và nhận bằng tiền mặt.

Sau 34 năm gắn bó với nghề giáo, bà Trương Ngọc Hải (phường Đống Đa, Hà Nội) cho biết, lương hưu hiện là nguồn thu nhập chính của gia đình. Vì vậy, ngay khi biết thông tin lương hưu sẽ được điều chỉnh tăng từ tháng 7/2026, bà luôn mong chờ đến kỳ chi trả đầu tiên theo mức hưởng mới.

Bà Hải chia sẻ: “Ngay trong ngày 1/7, tài khoản của tôi đã nhận được tiền. Sau khi tăng, lương hưu của tôi là hơn 6,1 triệu đồng, tôi rất mừng vì có thêm kinh phí trang trải cuộc sống. Bên cạnh đó, tôi còn được cấp thẻ BHYT miễn phí dành cho người nghỉ hưu để khám, chữa bệnh hằng tháng nên càng thấy yên tâm”.

Tại TP. Hồ Chí Minh, hai vợ chồng ông Đỗ Tâm Thư và bà Lê Thị Cúc (phường Thảo Điền) cũng chung niềm vui khi cùng được điều chỉnh tăng lương hưu từ ngày 1/7.

Ông Thư cho biết, mức lương hưu của ông tăng gần 800.000 đồng, lên 11,75 triệu đồng/tháng, trong khi lương hưu của bà Cúc được điều chỉnh lên 8,5 triệu đồng/tháng. Điều khiến ông bà càng phấn khởi hơn là ngay trong ngày 1/7, toàn bộ số tiền theo mức hưởng mới đã được chuyển vào tài khoản ngân hàng.

Chi trả qua tài khoản nhanh chóng, thuận tiện, an toàn

Theo thống kê của BHXH Việt Nam, hiện cả nước có khoảng 3,5 triệu người đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng. Người nhận lương hưu, trợ cấp BHXH qua tài khoản cá nhân sẽ được ưu tiên chuyển tiền sớm, trong khi hình thức nhận tiền mặt tiếp tục triển khai thông qua hệ thống bưu điện và các điểm chi trả trực tiếp.

Việc chi trả qua tài khoản cá nhân đang ngày càng được mở rộng nhằm giảm thời gian chờ đợi và tạo thuận lợi cho người hưởng. Hình thức này cũng giúp hạn chế tình trạng tập trung đông người tại các điểm nhận tiền mặt, đồng thời nâng cao tính minh bạch và an toàn trong quá trình chi trả.

Ông Đỗ Tâm Thư chia sẻ: “Nhận được thông báo tiền về tài khoản ngay trong ngày đầu tiên của tháng, vợ chồng tôi rất vui và yên tâm. Với nhiều người, đó có thể chỉ là một con số, nhưng với chúng tôi, đó còn là sự quan tâm, ghi nhận về cả quá trình lao động, cống hiến. Việc nhận lương hưu qua tài khoản cũng giúp chúng tôi tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức vì không phải đi lại, xếp hàng như trước”.

Trong khi đó, bà Đặng Thị Tươi (phường Cao Xanh, tỉnh Quảng Ninh) lại đón nhận niềm vui kép trong kỳ chi trả tháng 7. Không chỉ được hưởng mức lương hưu tăng thêm 8%, đây cũng là tháng đầu tiên bà nhận lương hưu qua tài khoản cá nhân.

“Trước đây, hằng tháng, tôi nhận lương hưu bằng tiền mặt tại điểm chi trả của bưu điện. Trong tháng 6 vừa qua, tôi được cán bộ BHXH và ngân hàng hướng dẫn đăng ký nhận lương hưu qua tài khoản cá nhân. Vì vậy, tháng 7 này, lương hưu đã được chuyển trực tiếp vào tài khoản ngay từ ngày đầu tiên của tháng cùng với số tiền tăng thêm, tôi thấy rất vui” - bà Tươi cho biết.

Cũng tại Quảng Ninh, bà Nguyễn Thị Hạnh, phường Hà Tu cho biết việc mở tài khoản và đăng ký nhận lương hưu qua tài khoản cá nhân được thực hiện nhanh chóng, đơn giản.

“Mỗi tháng tiền được chuyển vào tài khoản, điện thoại đều có thông báo nên tôi chủ động biết thời điểm nhận tiền và dễ dàng quản lý khoản lương hưu của mình. Tôi thấy hình thức này rất tiện lợi”- bà Hạnh chia sẻ.

Những chia sẻ của người hưởng cho thấy, bên cạnh niềm vui được tăng lương hưu, việc nhận chế độ qua tài khoản cá nhân đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Người hưởng không phải chờ đợi tại điểm chi trả, có thể chủ động thời gian nhận tiền, đồng thời bảo đảm an toàn, minh bạch trong quá trình hưởng các chế độ.

BHXH Việt Nam cho biết, tại kỳ chi trả tháng 6/2026, toàn quốc tỷ lệ người hưởng các chế độ hưu trí, trợ cấp BHXH hằng tháng nhận qua tài khoản cá nhân đã đạt khoảng 90%. Đây cũng là những người đầu tiên được nhận mức lương hưu, trợ cấp BHXH đã điều chỉnh tăng ngay từ những ngày đầu tháng 7, góp phần khẳng định hiệu quả của chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trong lĩnh vực an sinh xã hội.

Hà My

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

(TBTCO) - Sáng 18/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.254 đồng, tăng 40 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 10, lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,18%, Fed vẫn giữ lập trường "diều hâu", phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao hơn để cân bằng rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Hà Nội - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Miền Tây - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
NL 99.99 12,910 ▼90K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,860 ▼90K
Trang sức 99.9 13,810 ▼70K 14,510 ▼70K
Trang sức 99.99 13,820 ▼70K 14,520 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,442 ▼3K 14,722 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,442 ▼3K 14,723 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,427 ▲1284K 1,462 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,427 ▲1284K 1,463 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,397 ▲1257K 1,442 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,772 ▼297K 142,772 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,511 ▼225K 108,311 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,416 ▲79554K 98,216 ▲88374K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,321 ▼183K 88,121 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,427 ▼175K 84,227 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,487 ▼126K 60,287 ▼126K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Cập nhật: 20/07/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18133 18706
CAD 18237 18513 19129
CHF 31925 32306 32947
CNY 0 3841 3934
EUR 29453 29674 30748
GBP 34590 34982 35922
HKD 0 3222 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15086 15671
SGD 19833 20114 20680
THB 697 760 813
USD (1,2) 26025 0 0
USD (5,10,20) 26066 0 0
USD (50,100) 26095 26109 26468
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,577 29,601 31,013
JPY 157.55 157.83 167.35
GBP 34,765 34,859 36,062
AUD 18,007 18,072 18,651
CAD 18,424 18,483 19,162
CHF 32,170 32,270 33,219
SGD 19,955 20,017 20,803
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,287 3,297 3,435
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.66 754.87 808.12
NZD 15,069 15,209 15,660
SEK - 2,679 2,774
DKK - 3,957 4,096
NOK - 2,684 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.36 - 6,785.05
TWD 732.78 - 887.08
SAR - 6,883.63 7,249.97
KWD - 83,192 88,508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,513 29,632 30,825
GBP 34,752 34,892 35,926
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,997 32,125 33,057
JPY 157.93 158.56 166.48
AUD 18,034 18,106 18,702
SGD 20,019 20,099 20,689
THB 762 765 801
CAD 18,434 18,508 19,090
NZD 15,118 15,663
KRW 16.95 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26470
AUD 18022 18122 19045
CAD 18412 18512 19527
CHF 32134 32164 33746
CNY 3819.2 3844.2 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29611 29641 31364
GBP 34859 34909 36677
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19977 20107 20840
THB 0 725.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,116 26,166 26,490
USD20 26,116 26,166 26,490
USD1 26,116 26,166 26,490
AUD 18,084 18,184 19,289
EUR 29,426 29,526 31,183
CAD 18,365 18,465 19,772
SGD 20,061 20,211 20,830
JPY 158.91 160.41 165.95
GBP 34,778 34,928 36,001
XAU 14,418,000 0 14,722,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80