Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ánh Tuyết
Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
aa

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Đổi “thước đo” sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn? Huy động “đuối sức” trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Điều hành tín dụng, lãi suất cho tăng trưởng hai con số

Ngày 3/7, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.

Theo Thống đốc Phạm Đức Ấn, kinh tế toàn cầu tiếp tục biến động rất phức tạp, khó lường, xuất phát từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; xung đột quân sự kéo dài tại một số quốc gia, khu vực và lộ trình chính sách thận trọng hơn của các ngân hàng trung ương lớn.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 đã đạt được những kết quả quan trọng. Tăng trưởng được thúc đẩy gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn. Nhiều chỉ tiêu, chỉ số về tăng trưởng đạt kết quả cao nhất trong nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao.

Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm
Thống đốc Phạm Đức Ấn điều hành hội nghị. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát trong nước vẫn được kiểm soát hiệu quả nhờ các giải pháp điều hành linh hoạt của Chính phủ.

GDP quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung nửa đầu năm, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn cùng kỳ năm 2025 tăng 7,63%). Mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nửa đầu năm được đánh giá tích cực, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục biến động khó lường, xung đột vũ trang gia tăng và nhiều yếu tố bất định. Đóng góp vào thành công chung đó có vai trò quan trọng của điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

Thống đốc Phạm Đức Ấn nhấn mạnh, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung chỉ đạo toàn ngành triển khai đồng bộ, hiệu quả, thực chất các giải pháp tín dụng, lãi suất để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, trong đó có các công trình, dự án có quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, liên kết, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phương. Từ đó, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026; nhưng vẫn đảm bảo an toàn, ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng.

“Việc các ngân hàng tuân thủ chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề lãi suất cũng đảm bảo hoạt động của ngân hàng an toàn hơn, tốt hơn. Trong giai đoạn hiện nay, ngân hàng cần hỗ trợ doanh nghiệp, vì nếu sức khoẻ của doanh nghiệp yếu, thì chính ngân hàng cũng bị ảnh hưởng” - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh.

Nêu bật những thành quả mà ngành ngân hàng đã đạt được trong nỗ lực giảm lãi suất, điều hành tỷ giá, tín dụng, hoàn thiện thể chế, phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ ngân hàng thuận tiện, chi phí hợp lý, đảm bảo an ninh mạng..., Thống đốc cũng nhấn mạnh, ngành ngân hàng cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế.

Về vấn đề lãi suất, theo Thống đốc, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước cũng có nhiều chỉ đạo đối với các ngân hàng thương mại để có mặt bằng lãi suất tốt hơn và hiệu quả tương đối tốt.

Tín dụng vượt 20 triệu tỷ đồng, hỗ trợ tăng trưởng nhưng phải kiểm soát lạm phát

Trình bày báo cáo tóm tắt tại hội nghị, Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Đoàn Thái Sơn cho biết, những tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế.

Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm
Ban Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo các đơn vị tham dự hội nghị. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Ngày 9/4/2026, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức làm việc trực tiếp với các ngân hàng thương mại và yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi của các giao dịch phát sinh mới đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; giảm lãi suất tiền gửi niêm yết và lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.

Ngân hàng Nhà nước đã điều hành tỷ giá linh hoạt, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài, phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ khác, nhờ đó, thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, tỷ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Theo Phó Thống đốc Đoàn Thái Sơn, đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, bổ sung cho nền kinh tế khoảng 1,4 triệu tỷ đồng so với cuối năm 2025.

Cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế, vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đến cuối tháng 5/2026, khoảng 77% dư nợ nền kinh tế phục vụ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

Để cùng cả hệ thống chính trị hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đã đề ra, đối với các tổ chức tín dụng, Thống đốc nhấn mạnh nhiều nhiệm vụ, định hướng trọng tâm.

Trong đó, theo dõi sát diễn biến, tình hình kinh tế, thị trường tài chính, tiền tệ thế giới và trong nước để có các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, góp phần hoàn thành các mục tiêu chính sách tiền tệ đề ra. Điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát.

Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, do đó các ngân hàng thương mại cần cân đối nguồn vốn, đảm bảo an toàn, bền vững. Ngân hàng Nhà nước luôn chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

(TBTCO) - Ngày 2/7/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas (MB Life) đã tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập (2016 - 2026). Nhân dịp này, MB Life vinh dự đón nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, ghi nhận những thành tích trong thực hiện nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.
Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép về niềm tin và khai thác mới, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang đẩy mạnh ra mắt sản phẩm mới theo hướng đơn giản hơn, thiết thực hơn và sát nhu cầu bảo vệ tài chính của khách hàng, qua đó kỳ vọng mở rộng tệp khách hàng và hỗ trợ thị trường phục hồi bền vững trong thời gian tới.
Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 2026: Lan tỏa an sinh, mở rộng diện bao phủ

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 2026: Lan tỏa an sinh, mở rộng diện bao phủ

Theo tổng hợp từ bảo hiểm xã hội các địa phương, chỉ trong ngày cao điểm kỷ niệm Ngày Bảo hiểm y tế (1/7), toàn hệ thống đã huy động nhiều nguồn lực xã hội để trao tặng hàng nghìn sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho người dân có hoàn cảnh khó khăn.
Bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh nào chi trả 50% bảo hiểm y tế khám trái tuyến?

Bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh nào chi trả 50% bảo hiểm y tế khám trái tuyến?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người bệnh khám, chữa bệnh ngoại trú tại 518 cơ sở y tế cấp cơ bản và chuyên sâu, trong đó có nhiều bệnh viện trước đây là tuyến trung ương và tuyến tỉnh sẽ được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 50% mức hưởng, góp phần giảm gánh nặng chi phí và tạo thuận lợi trong tiếp cận dịch vụ y tế.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

(TBTCO) - Tận hưởng ưu đãi hoàn tiền tới 1.000.000 VND khi mở mới và chi tiêu qua thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard trong tháng 7/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 5,93 USD/ounce lên mức 4.035,7 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm 500.000 - 1 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Kim TT/AVPL 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Nguyên Liệu 99.99 13,600 ▲300K 13,800 ▲300K
Nguyên Liệu 99.9 13,550 ▲300K 13,750 ▲300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 ▲300K 14,600 ▲300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 ▲300K 14,550 ▲300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 ▲300K 14,530 ▲300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Hà Nội - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Đà Nẵng - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Miền Tây - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Tây Nguyên - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
NL 99.90 13,050 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲100K
Trang sức 99.9 14,290 ▲300K 14,990 ▲300K
Trang sức 99.99 14,300 ▲300K 15,000 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 ▲30K 15,142 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 ▲30K 15,143 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 ▲30K 1,513 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 ▲30K 1,514 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 ▲30K 1,498 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 ▲2970K 148,317 ▲2970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 ▲2250K 112,511 ▲2250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 ▲2040K 102,024 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 ▲1830K 91,537 ▲1830K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 ▲1749K 87,492 ▲1749K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 ▲1251K 62,623 ▲1251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Cập nhật: 03/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17984 18560
CAD 18006 18281 18898
CHF 32104 32486 33120
CNY 0 3836 3929
EUR 29465 29686 30764
GBP 34319 34710 35641
HKD 0 3221 3423
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14714 15301
SGD 19833 20115 20681
THB 709 772 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80