Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
aa

Căng mình “bơm” tín dụng khi thanh khoản “khát” dần

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo ABBank cho biết, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của ngân hàng từng ở mức rất cao, thậm chí tiệm cận 120%.

Mô hình cho vay vượt quy mô vốn huy động bằng đòn bẩy lãi suất liên ngân hàng giá rẻ từng giúp nhiều nhà băng bứt phá. Tuy nhiên, giai đoạn 2025 - 2026, khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt, mô hình này lập tức bộc lộ rủi ro. Tại ABBank, các cuộc họp của Ủy ban Quản lý tài sản Nợ - Tài sản có (ALCO) nổ ra tranh luận gay gắt, có nên giảm tỷ lệ LDR từ 120% xuống 70% để an toàn, chấp nhận rủi ro thừa vốn và làm giảm hiệu quả kinh doanh.

Giải
Nguồn: Chứng khoán Rồng Việt. Đồ họa tư liệu

Thực tế, bức tranh thanh khoản hệ thống thay đổi toàn diện. Lãi suất qua đêm không còn bình yên ở mức 4%, mà biến động dữ dội mỗi kỳ tín dụng “dồn toa” cuối tháng, cuối quý, hay cuối năm. Đỉnh điểm là đầu tháng 2/2026 (trước Tết), lãi suất qua đêm vọt lên mức kỷ lục 17%/năm. Đến đầu tháng 6/2026 lại áp sát 11%/năm, nhiều thời điểm doanh số vay mượn vượt 1 triệu tỷ đồng. Thị trường tiền tệ căng thẳng tột độ như một cỗ máy phải hoạt động hết công suất.

Ngành ngân hàng đứng trước bài toán khó, vừa phải giữ an toàn và bền vững của hệ thống, vừa phải là cột trụ bơm vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, muốn “bơm” tín dụng quy mô lớn, đầu vào huy động phải đủ dồi dào, thanh khoản phải thật sự thông suốt.

Tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ toàn hệ thống đã vượt 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm trước. Trái lại, dòng tiền dân cư liên tục chảy sang vàng, chứng khoán, crypto, bất động sản... do lãi suất tiền gửi thấp kéo dài trước đó, khiến huy động vốn đi lùi, kéo dài sang năm thứ 4 liên tiếp.

Nhìn nhận về nguyên nhân sâu xa của áp lực thanh khoản tại Hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh vừa qua, bà Nguyễn Bích Liên - Phó Trưởng phòng Quản lý cân đối vốn Khối Tài chính VietinBank cho rằng, nguyên nhân xuất phát từ sự lệch pha giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng nguồn vốn của các ngân hàng, dẫn tới trạng thái thanh khoản bị thu hẹp và tạo ra áp lực phải cải thiện nhanh lãi suất huy động của một số ngân hàng.

Cuộc đua tìm nguồn vốn nóng lên

Để bù đắp thanh khoản, nhiều nhà băng lớn phải duy trì trạng thái vay ròng lớn trên thị trường liên ngân hàng tính đến cuối quý I/2026, điển hình như: VPBank (vay ròng 116,5 nghìn tỷ đồng), MB (91,6 nghìn tỷ đồng), Techcombank (62,5 nghìn tỷ đồng)...

Việc phụ thuộc lớn vào nguồn vốn ngắn hạn này giúp đáp ứng thanh khoản trước mắt, nhưng lại khiến các ngân hàng trở nên tổn thương và nhạy cảm hơn trước mọi biến động lãi suất, cũng như rủi ro thanh khoản khi thị trường đảo chiều.

Cẩn trọng dùng vốn ngắn hạn “nuôi” tín dụng dài hạn

“Một số ngân hàng đã sử dụng vốn từ thị trường 2 để đáp ứng nhu cầu vốn trên thị trường 1, đó là điều khá rủi ro và các ngân hàng cần đặc biệt thận trọng. Bởi đã có những giai đoạn lãi suất trên thị trường 2 tăng mạnh, từ đó, gây áp lực và ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trường 1”.

TS. Nguyễn Trí Hiếu

Số liệu của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cho thấy, cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng có sự chuyển dịch đáng kể, dưới áp lực tăng trưởng tín dụng cao kéo dài.

Theo đó, nguồn vốn huy động từ khách hàng, vốn được xem là “xương sống” của hệ thống, giảm tỷ trọng từ 81% năm 2020 xuống còn khoảng 68% vào quý I/2026, tương ứng giảm mạnh 13 điểm phần trăm. Cuộc đua lãi suất huy động bùng phát cuối quý III/2025 như một hệ quả tất yếu.

Trong khi đó, các ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn có chi phí cao hơn, để bù đắp khoảng trống thanh khoản. Theo đó, tỷ trọng vốn từ thị trường liên ngân hàng tăng từ 12% lên 19%, trong khi giấy tờ có giá tăng từ 6% lên 10%. Cùng với đó, tỷ lệ CASA toàn ngành giảm mạnh từ vùng 24 - 25% xuống dưới 21% trong quý I/2026 do mặt bằng lãi suất huy động tăng.

Diễn biến này cho thấy hệ thống ngân hàng đang phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn vốn bổ sung, kéo theo áp lực chi phí vốn và rủi ro thanh khoản gia tăng.

Lệch pha kỳ hạn và những rủi ro tiềm ẩn

Khi thị trường liên ngân hàng không đủ giải nhiệt, Ngân hàng Nhà nước buộc phải tăng cường bơm tiền qua kênh cầm cố giấy tờ có giá (OMO), đẩy quy mô lưu hành có lúc sát ngưỡng kỷ lục 500.000 tỷ đồng, với mức lãi suất nâng lên 4,5% từ cuối năm 2025. Trong bối cảnh nguồn trái phiếu Chính phủ cầm cố dần cạn kiệt, nhà điều hành cấp tập thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) USD - VND để giải tỏa “cơn khát” tiền VND cho hệ thống.

Nhận định về triển vọng lãi suất thời gian tới, đại diện VietinBank nhận thấy nhiều áp lực lớn. Nguyên nhân đến từ tình trạng nhập siêu các tháng đầu năm, quỹ dự trữ ngoại hối tương đối mỏng, áp lực lạm phát xuất phát từ mức tăng của giá xăng dầu, lộ trình giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể điều chỉnh.

Thanh khoản chịu sức ép, tín dụng khó đơn độc

“Về dài hạn, câu chuyện này cũng cho thấy nền kinh tế Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao, nhu cầu vốn sẽ rất lớn, nếu toàn bộ áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng thì rủi ro thanh khoản và rủi ro hệ thống sẽ gia tăng. Vì vậy, cần phát triển mạnh hơn thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, các định chế tài chính dài hạn và các kênh huy động vốn quốc tế để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng”.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, bà Nguyễn Bích Liên cho rằng, chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt và thận trọng đang là yếu tố hỗ trợ tích cực cho thị trường. Định hướng thúc đẩy đầu tư công có thể đem những nguồn thanh khoản lớn quay trở lại thị trường ngân hàng. Lượng tiền mặt cũng sẽ quay trở lại hệ thống, sau khi có sự ổn định về chính sách thuế với doanh nghiệp và hộ kinh doanh.

Vì vậy, mặt bằng lãi suất huy động được kỳ vọng duy trì ổn định và khó tăng mạnh trong những tháng còn lại của năm.

Đằng sau những biến động trên thị trường 1 (dân cư và tổ chức) và thị trường 2 (liên ngân hàng), theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang gia tăng trong bối cảnh nền kinh tế bước vào chu kỳ phục hồi tín dụng mạnh hơn, trong khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm hơn kỳ vọng.

“Đây là hiện tượng đáng chú ý, vì trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam vốn hoạt động dựa trên nền tảng “huy động ngắn hạn - cho vay trung, dài hạn”, nên khi huy động chậm lại, áp lực cân đối vốn sẽ xuất hiện khá nhanh” - ông Huân nêu vấn đề.

Không chỉ làm gia tăng áp lực huy động vốn, sự lệch pha về kỳ hạn còn kéo theo những rủi ro đáng lưu ý đối với an toàn hệ thống.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu lưu ý, nếu ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền khi đến hạn, hiện tượng rút tiền hàng loạt có thể xảy ra, đẩy tổ chức tín dụng vào tình trạng mất thanh khoản, thậm chí đổ vỡ. Đây không phải rủi ro mang tính giả định, mà từng xảy ra tại Việt Nam với trường hợp SCB, cũng như tại Mỹ và nhiều quốc gia khác.

Dẫu vậy, do áp lực nội tại khó thay đổi trong ngắn hạn. Việc phát triển các kênh dẫn vốn trung và dài hạn được xem là giải pháp cốt lõi giảm tải gánh nặng cung ứng vốn, qua đó, ổn định thanh khoản hệ thống ngân hàng và tạo dư địa tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế

NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đang từng bước khẳng định vai trò đồng hành cùng ngành du lịch qua việc phát triển các giải pháp thanh toán số an toàn, thuận tiện, góp phần tháo gỡ rào cản chi tiêu, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp du lịch nâng cao năng lực cạnh tranh.
Từ dịch vụ cầm cố đến định chế tài chính minh bạch: Hành trình ESG của F88

Từ dịch vụ cầm cố đến định chế tài chính minh bạch: Hành trình ESG của F88

(TBTCO) - Làm thế nào để mở lối tiếp cận vốn an toàn cho 18 triệu người "dưới chuẩn" ngân hàng mà không biến họ thành nạn nhân của tín dụng đen? Báo cáo ESG đầu tiên của F88 đã đưa ra lời giải bằng một tư duy khác biệt: Lợi nhuận bền vững phải được sinh ra từ sự minh bạch tối đa và trách nhiệm bảo vệ sinh kế cho người lao động.
Từ “giữ tiền an toàn” đến tối ưu dòng tiền nhàn rỗi

Từ “giữ tiền an toàn” đến tối ưu dòng tiền nhàn rỗi

(TBTCO) - Từ “giữ tiền an toàn” đến tối ưu dòng tiền nhàn rỗi Bám sát nhu cầu quản lý tài chính ngày càng đa dạng của khách hàng, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức ra mắt sản phẩm “Tiết kiệm bậc thang” với mức sinh lời lũy kế hấp dẫn theo số dư tiền gửi, áp dụng cho đa dạng đối tượng khách hàng và không giới hạn số lượng sổ tiết kiệm, mở ra cơ hội gia tăng hiệu quả sinh lời cho các nhu cầu tích lũy dài hạn.
Báo chí vun đắp "vốn quý" cho sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm

Báo chí vun đắp "vốn quý" cho sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Khi niềm tin trở thành "vốn quý" của thị trường bảo hiểm, vai trò của báo chí không chỉ dừng ở việc đưa tin, mà còn là "tấm gương phản chiếu", thúc đẩy trách nhiệm giải trình và lan tỏa những giá trị tích cực. Sự đồng hành giữa báo chí, cơ quan quản lý và doanh nghiệp đang tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của thị trường.
Đồng điệu nhịp cải cách, tạo lực đẩy cho thị trường bảo hiểm

Đồng điệu nhịp cải cách, tạo lực đẩy cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Sau giai đoạn chững lại để tái cấu trúc, thị trường bảo hiểm đang dần lấy lại đà tăng trưởng, nhờ sự đồng điệu giữa cải cách thể chế và nỗ lực đổi mới từ doanh nghiệp. Nhiều điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính được cắt giảm, cùng việc mở rộng dư địa hoạt động tạo thêm động lực tăng trưởng cho toàn ngành.
Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 22/6 tiếp tục bật tăng khá mạnh. Ghi nhận đầu giờ, cả giá vàng miếng và vàng nhẫn ở các cửa hàng kinh doanh vàng đều tăng từ 1,5 - 2 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm Bảo Việt: Thương hiệu niềm tin của nhiều thế hệ khách hàng

Bảo hiểm Bảo Việt: Thương hiệu niềm tin của nhiều thế hệ khách hàng

(TBTCO) - Trong ngành bảo hiểm, có một sự khác biệt rất lớn giữa “doanh nghiệp dẫn đầu thị phần” và “thương hiệu dẫn đầu niềm tin”. Thị phần có thể thay đổi theo từng giai đoạn của thị trường, nhưng niềm tin là thứ chỉ được tạo dựng sau rất nhiều năm duy trì năng lực tài chính, khả năng chi trả và sự ổn định trong những thời điểm khó khăn nhất.
Dai-ichi Life Việt Nam: Giữ nhịp tăng trưởng, thúc đẩy ESG trong chu kỳ tái định hình thị trường

Dai-ichi Life Việt Nam: Giữ nhịp tăng trưởng, thúc đẩy ESG trong chu kỳ tái định hình thị trường

(TBTCO) - Sau hơn 19 năm hoạt động tại Việt Nam, Dai-ichi Life Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định và đẩy mạnh thực thi các mục tiêu ESG, khẳng định định hướng phát triển dài hạn dựa trên nền tảng tài chính vững chắc, đổi mới liên tục và trách nhiệm đồng hành cùng khách hàng, cộng đồng và nền kinh tế.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
Kim TT/AVPL 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 ▲350K 13,600 ▲350K
Nguyên Liệu 99.9 13,350 ▲350K 13,550 ▲350K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,150 ▲350K 14,650 ▲450K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,100 ▲350K 14,600 ▲450K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,030 ▲350K 14,580 ▲450K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
Miếng SJC Nghệ An 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
Miếng SJC Thái Bình 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,540 ▲190K 14,840 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,540 ▲190K 14,840 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,540 ▲190K 14,840 ▲140K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,030 ▲140K 14,730 ▲140K
Trang sức 99.99 14,040 ▲140K 14,740 ▲140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,456 ▲14K 14,862 ▲140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,456 ▲14K 14,863 ▲140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,455 ▲14K 1,485 ▲14K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,455 ▲14K 1,486 ▲14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲14K 147 ▼1309K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,545 ▲1387K 145,545 ▲1387K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 ▲1050K 110,411 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,062 ▼80606K 10,012 ▼89156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,329 ▲854K 89,829 ▲854K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,636 ▼67907K 8,586 ▼76457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,955 ▲584K 61,455 ▲584K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Cập nhật: 22/06/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17893 18167 18744
CAD 18043 18318 18937
CHF 31937 32318 32975
CNY 0 3844 3937
EUR 29527 29749 30832
GBP 34048 34438 35373
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14767 15358
SGD 19816 20098 20674
THB 715 778 832
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26442
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,122 26,122 26,442
USD(1-2-5) 25,078 - -
USD(10-20) 25,078 - -
EUR 29,664 29,688 31,030
JPY 158.52 158.81 168.02
GBP 34,162 34,254 35,352
AUD 18,102 18,167 18,810
CAD 18,224 18,283 18,912
CHF 32,194 32,294 33,168
SGD 19,956 20,018 20,758
CNY - 3,814 3,950
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.77 16.45 17.86
THB 763.72 773.15 825.31
NZD 14,758 14,895 15,300
SEK - 2,699 2,787
DKK - 3,969 4,099
NOK - 2,666 2,757
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,932.89 - 6,680
TWD 751.46 - 908.19
SAR - 6,900.47 7,252.03
KWD - 83,357 88,481
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,102 26,122 26,442
EUR 29,622 29,741 30,924
GBP 34,190 34,327 35,338
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,031 32,160 33,056
JPY 158.84 159.48 167.28
AUD 18,113 18,186 18,777
SGD 20,022 20,102 20,682
THB 780 783 818
CAD 18,236 18,309 18,863
NZD 14,854 15,387
KRW 16.47 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26136 26136 26442
AUD 18076 18176 19099
CAD 18223 18323 19334
CHF 32194 32224 33802
CNY 3824.4 3849.4 3984.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29706 29736 31461
GBP 34319 34369 36127
HKD 0 3355 0
JPY 159.2 159.7 170.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14874 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19976 20106 20829
THB 0 744.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,442
USD20 26,140 26,190 26,442
USD1 23,924 26,190 26,442
AUD 18,143 18,243 19,366
EUR 29,862 29,862 31,284
CAD 18,154 18,254 19,565
SGD 20,064 20,214 20,779
JPY 159.9 161.4 166
GBP 34,184 34,534 35,669
XAU 14,418,000 0 14,722,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/06/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80