Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản
Căng mình “bơm” tín dụng khi thanh khoản “khát” dần
Chia sẻ gần đây, lãnh đạo ABBank cho biết, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của ngân hàng từng ở mức rất cao, thậm chí tiệm cận 120%.
Mô hình cho vay vượt quy mô vốn huy động bằng đòn bẩy lãi suất liên ngân hàng giá rẻ từng giúp nhiều nhà băng bứt phá. Tuy nhiên, giai đoạn 2025 - 2026, khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt, mô hình này lập tức bộc lộ rủi ro. Tại ABBank, các cuộc họp của Ủy ban Quản lý tài sản Nợ - Tài sản có (ALCO) nổ ra tranh luận gay gắt, có nên giảm tỷ lệ LDR từ 120% xuống 70% để an toàn, chấp nhận rủi ro thừa vốn và làm giảm hiệu quả kinh doanh.
![]() |
| Nguồn: Chứng khoán Rồng Việt. Đồ họa tư liệu |
Thực tế, bức tranh thanh khoản hệ thống thay đổi toàn diện. Lãi suất qua đêm không còn bình yên ở mức 4%, mà biến động dữ dội mỗi kỳ tín dụng “dồn toa” cuối tháng, cuối quý, hay cuối năm. Đỉnh điểm là đầu tháng 2/2026 (trước Tết), lãi suất qua đêm vọt lên mức kỷ lục 17%/năm. Đến đầu tháng 6/2026 lại áp sát 11%/năm, nhiều thời điểm doanh số vay mượn vượt 1 triệu tỷ đồng. Thị trường tiền tệ căng thẳng tột độ như một cỗ máy phải hoạt động hết công suất.
Ngành ngân hàng đứng trước bài toán khó, vừa phải giữ an toàn và bền vững của hệ thống, vừa phải là cột trụ bơm vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, muốn “bơm” tín dụng quy mô lớn, đầu vào huy động phải đủ dồi dào, thanh khoản phải thật sự thông suốt.
Tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ toàn hệ thống đã vượt 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm trước. Trái lại, dòng tiền dân cư liên tục chảy sang vàng, chứng khoán, crypto, bất động sản... do lãi suất tiền gửi thấp kéo dài trước đó, khiến huy động vốn đi lùi, kéo dài sang năm thứ 4 liên tiếp.
Nhìn nhận về nguyên nhân sâu xa của áp lực thanh khoản tại Hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh vừa qua, bà Nguyễn Bích Liên - Phó Trưởng phòng Quản lý cân đối vốn Khối Tài chính VietinBank cho rằng, nguyên nhân xuất phát từ sự lệch pha giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng nguồn vốn của các ngân hàng, dẫn tới trạng thái thanh khoản bị thu hẹp và tạo ra áp lực phải cải thiện nhanh lãi suất huy động của một số ngân hàng.
Cuộc đua tìm nguồn vốn nóng lên
Để bù đắp thanh khoản, nhiều nhà băng lớn phải duy trì trạng thái vay ròng lớn trên thị trường liên ngân hàng tính đến cuối quý I/2026, điển hình như: VPBank (vay ròng 116,5 nghìn tỷ đồng), MB (91,6 nghìn tỷ đồng), Techcombank (62,5 nghìn tỷ đồng)...
Việc phụ thuộc lớn vào nguồn vốn ngắn hạn này giúp đáp ứng thanh khoản trước mắt, nhưng lại khiến các ngân hàng trở nên tổn thương và nhạy cảm hơn trước mọi biến động lãi suất, cũng như rủi ro thanh khoản khi thị trường đảo chiều.
Cẩn trọng dùng vốn ngắn hạn “nuôi” tín dụng dài hạn“Một số ngân hàng đã sử dụng vốn từ thị trường 2 để đáp ứng nhu cầu vốn trên thị trường 1, đó là điều khá rủi ro và các ngân hàng cần đặc biệt thận trọng. Bởi đã có những giai đoạn lãi suất trên thị trường 2 tăng mạnh, từ đó, gây áp lực và ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trường 1”. TS. Nguyễn Trí Hiếu |
Số liệu của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cho thấy, cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng có sự chuyển dịch đáng kể, dưới áp lực tăng trưởng tín dụng cao kéo dài.
Theo đó, nguồn vốn huy động từ khách hàng, vốn được xem là “xương sống” của hệ thống, giảm tỷ trọng từ 81% năm 2020 xuống còn khoảng 68% vào quý I/2026, tương ứng giảm mạnh 13 điểm phần trăm. Cuộc đua lãi suất huy động bùng phát cuối quý III/2025 như một hệ quả tất yếu.
Trong khi đó, các ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn có chi phí cao hơn, để bù đắp khoảng trống thanh khoản. Theo đó, tỷ trọng vốn từ thị trường liên ngân hàng tăng từ 12% lên 19%, trong khi giấy tờ có giá tăng từ 6% lên 10%. Cùng với đó, tỷ lệ CASA toàn ngành giảm mạnh từ vùng 24 - 25% xuống dưới 21% trong quý I/2026 do mặt bằng lãi suất huy động tăng.
Diễn biến này cho thấy hệ thống ngân hàng đang phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn vốn bổ sung, kéo theo áp lực chi phí vốn và rủi ro thanh khoản gia tăng.
Lệch pha kỳ hạn và những rủi ro tiềm ẩn
Khi thị trường liên ngân hàng không đủ giải nhiệt, Ngân hàng Nhà nước buộc phải tăng cường bơm tiền qua kênh cầm cố giấy tờ có giá (OMO), đẩy quy mô lưu hành có lúc sát ngưỡng kỷ lục 500.000 tỷ đồng, với mức lãi suất nâng lên 4,5% từ cuối năm 2025. Trong bối cảnh nguồn trái phiếu Chính phủ cầm cố dần cạn kiệt, nhà điều hành cấp tập thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) USD - VND để giải tỏa “cơn khát” tiền VND cho hệ thống.
Nhận định về triển vọng lãi suất thời gian tới, đại diện VietinBank nhận thấy nhiều áp lực lớn. Nguyên nhân đến từ tình trạng nhập siêu các tháng đầu năm, quỹ dự trữ ngoại hối tương đối mỏng, áp lực lạm phát xuất phát từ mức tăng của giá xăng dầu, lộ trình giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể điều chỉnh.
Thanh khoản chịu sức ép, tín dụng khó đơn độc“Về dài hạn, câu chuyện này cũng cho thấy nền kinh tế Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao, nhu cầu vốn sẽ rất lớn, nếu toàn bộ áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng thì rủi ro thanh khoản và rủi ro hệ thống sẽ gia tăng. Vì vậy, cần phát triển mạnh hơn thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, các định chế tài chính dài hạn và các kênh huy động vốn quốc tế để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng”. PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân |
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, bà Nguyễn Bích Liên cho rằng, chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt và thận trọng đang là yếu tố hỗ trợ tích cực cho thị trường. Định hướng thúc đẩy đầu tư công có thể đem những nguồn thanh khoản lớn quay trở lại thị trường ngân hàng. Lượng tiền mặt cũng sẽ quay trở lại hệ thống, sau khi có sự ổn định về chính sách thuế với doanh nghiệp và hộ kinh doanh.
Vì vậy, mặt bằng lãi suất huy động được kỳ vọng duy trì ổn định và khó tăng mạnh trong những tháng còn lại của năm.
Đằng sau những biến động trên thị trường 1 (dân cư và tổ chức) và thị trường 2 (liên ngân hàng), theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang gia tăng trong bối cảnh nền kinh tế bước vào chu kỳ phục hồi tín dụng mạnh hơn, trong khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm hơn kỳ vọng.
“Đây là hiện tượng đáng chú ý, vì trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam vốn hoạt động dựa trên nền tảng “huy động ngắn hạn - cho vay trung, dài hạn”, nên khi huy động chậm lại, áp lực cân đối vốn sẽ xuất hiện khá nhanh” - ông Huân nêu vấn đề.
Không chỉ làm gia tăng áp lực huy động vốn, sự lệch pha về kỳ hạn còn kéo theo những rủi ro đáng lưu ý đối với an toàn hệ thống.
TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu lưu ý, nếu ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền khi đến hạn, hiện tượng rút tiền hàng loạt có thể xảy ra, đẩy tổ chức tín dụng vào tình trạng mất thanh khoản, thậm chí đổ vỡ. Đây không phải rủi ro mang tính giả định, mà từng xảy ra tại Việt Nam với trường hợp SCB, cũng như tại Mỹ và nhiều quốc gia khác.
Dẫu vậy, do áp lực nội tại khó thay đổi trong ngắn hạn. Việc phát triển các kênh dẫn vốn trung và dài hạn được xem là giải pháp cốt lõi giảm tải gánh nặng cung ứng vốn, qua đó, ổn định thanh khoản hệ thống ngân hàng và tạo dư địa tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.
Dành cho bạn
Đọc thêm
Từ dịch vụ cầm cố đến định chế tài chính minh bạch: Hành trình ESG của F88
Từ “giữ tiền an toàn” đến tối ưu dòng tiền nhàn rỗi
Báo chí vun đắp "vốn quý" cho sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm
Đồng điệu nhịp cải cách, tạo lực đẩy cho thị trường bảo hiểm
Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu
Bảo hiểm Bảo Việt: Thương hiệu niềm tin của nhiều thế hệ khách hàng





