Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
aa

Căng mình “bơm” tín dụng khi thanh khoản “khát” dần

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo ABBank cho biết, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của ngân hàng từng ở mức rất cao, thậm chí tiệm cận 120%.

Mô hình cho vay vượt quy mô vốn huy động bằng đòn bẩy lãi suất liên ngân hàng giá rẻ từng giúp nhiều nhà băng bứt phá. Tuy nhiên, giai đoạn 2025 - 2026, khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt, mô hình này lập tức bộc lộ rủi ro. Tại ABBank, các cuộc họp của Ủy ban Quản lý tài sản Nợ - Tài sản có (ALCO) nổ ra tranh luận gay gắt, có nên giảm tỷ lệ LDR từ 120% xuống 70% để an toàn, chấp nhận rủi ro thừa vốn và làm giảm hiệu quả kinh doanh.

Giải
Nguồn: Chứng khoán Rồng Việt. Đồ họa tư liệu

Thực tế, bức tranh thanh khoản hệ thống thay đổi toàn diện. Lãi suất qua đêm không còn bình yên ở mức 4%, mà biến động dữ dội mỗi kỳ tín dụng “dồn toa” cuối tháng, cuối quý, hay cuối năm. Đỉnh điểm là đầu tháng 2/2026 (trước Tết), lãi suất qua đêm vọt lên mức kỷ lục 17%/năm. Đến đầu tháng 6/2026 lại áp sát 11%/năm, nhiều thời điểm doanh số vay mượn vượt 1 triệu tỷ đồng. Thị trường tiền tệ căng thẳng tột độ như một cỗ máy phải hoạt động hết công suất.

Ngành ngân hàng đứng trước bài toán khó, vừa phải giữ an toàn và bền vững của hệ thống, vừa phải là cột trụ bơm vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, muốn “bơm” tín dụng quy mô lớn, đầu vào huy động phải đủ dồi dào, thanh khoản phải thật sự thông suốt.

Tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ toàn hệ thống đã vượt 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm trước. Trái lại, dòng tiền dân cư liên tục chảy sang vàng, chứng khoán, crypto, bất động sản... do lãi suất tiền gửi thấp kéo dài trước đó, khiến huy động vốn đi lùi, kéo dài sang năm thứ 4 liên tiếp.

Nhìn nhận về nguyên nhân sâu xa của áp lực thanh khoản tại Hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh vừa qua, bà Nguyễn Bích Liên - Phó Trưởng phòng Quản lý cân đối vốn Khối Tài chính VietinBank cho rằng, nguyên nhân xuất phát từ sự lệch pha giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng nguồn vốn của các ngân hàng, dẫn tới trạng thái thanh khoản bị thu hẹp và tạo ra áp lực phải cải thiện nhanh lãi suất huy động của một số ngân hàng.

Cuộc đua tìm nguồn vốn nóng lên

Để bù đắp thanh khoản, nhiều nhà băng lớn phải duy trì trạng thái vay ròng lớn trên thị trường liên ngân hàng tính đến cuối quý I/2026, điển hình như: VPBank (vay ròng 116,5 nghìn tỷ đồng), MB (91,6 nghìn tỷ đồng), Techcombank (62,5 nghìn tỷ đồng)...

Việc phụ thuộc lớn vào nguồn vốn ngắn hạn này giúp đáp ứng thanh khoản trước mắt, nhưng lại khiến các ngân hàng trở nên tổn thương và nhạy cảm hơn trước mọi biến động lãi suất, cũng như rủi ro thanh khoản khi thị trường đảo chiều.

Cẩn trọng dùng vốn ngắn hạn “nuôi” tín dụng dài hạn

“Một số ngân hàng đã sử dụng vốn từ thị trường 2 để đáp ứng nhu cầu vốn trên thị trường 1, đó là điều khá rủi ro và các ngân hàng cần đặc biệt thận trọng. Bởi đã có những giai đoạn lãi suất trên thị trường 2 tăng mạnh, từ đó, gây áp lực và ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trường 1”.

TS. Nguyễn Trí Hiếu

Số liệu của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cho thấy, cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng có sự chuyển dịch đáng kể, dưới áp lực tăng trưởng tín dụng cao kéo dài.

Theo đó, nguồn vốn huy động từ khách hàng, vốn được xem là “xương sống” của hệ thống, giảm tỷ trọng từ 81% năm 2020 xuống còn khoảng 68% vào quý I/2026, tương ứng giảm mạnh 13 điểm phần trăm. Cuộc đua lãi suất huy động bùng phát cuối quý III/2025 như một hệ quả tất yếu.

Trong khi đó, các ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn có chi phí cao hơn, để bù đắp khoảng trống thanh khoản. Theo đó, tỷ trọng vốn từ thị trường liên ngân hàng tăng từ 12% lên 19%, trong khi giấy tờ có giá tăng từ 6% lên 10%. Cùng với đó, tỷ lệ CASA toàn ngành giảm mạnh từ vùng 24 - 25% xuống dưới 21% trong quý I/2026 do mặt bằng lãi suất huy động tăng.

Diễn biến này cho thấy hệ thống ngân hàng đang phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn vốn bổ sung, kéo theo áp lực chi phí vốn và rủi ro thanh khoản gia tăng.

Lệch pha kỳ hạn và những rủi ro tiềm ẩn

Khi thị trường liên ngân hàng không đủ giải nhiệt, Ngân hàng Nhà nước buộc phải tăng cường bơm tiền qua kênh cầm cố giấy tờ có giá (OMO), đẩy quy mô lưu hành có lúc sát ngưỡng kỷ lục 500.000 tỷ đồng, với mức lãi suất nâng lên 4,5% từ cuối năm 2025. Trong bối cảnh nguồn trái phiếu Chính phủ cầm cố dần cạn kiệt, nhà điều hành cấp tập thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) USD - VND để giải tỏa “cơn khát” tiền VND cho hệ thống.

Nhận định về triển vọng lãi suất thời gian tới, đại diện VietinBank nhận thấy nhiều áp lực lớn. Nguyên nhân đến từ tình trạng nhập siêu các tháng đầu năm, quỹ dự trữ ngoại hối tương đối mỏng, áp lực lạm phát xuất phát từ mức tăng của giá xăng dầu, lộ trình giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể điều chỉnh.

Thanh khoản chịu sức ép, tín dụng khó đơn độc

“Về dài hạn, câu chuyện này cũng cho thấy nền kinh tế Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao, nhu cầu vốn sẽ rất lớn, nếu toàn bộ áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng thì rủi ro thanh khoản và rủi ro hệ thống sẽ gia tăng. Vì vậy, cần phát triển mạnh hơn thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, các định chế tài chính dài hạn và các kênh huy động vốn quốc tế để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng”.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, bà Nguyễn Bích Liên cho rằng, chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt và thận trọng đang là yếu tố hỗ trợ tích cực cho thị trường. Định hướng thúc đẩy đầu tư công có thể đem những nguồn thanh khoản lớn quay trở lại thị trường ngân hàng. Lượng tiền mặt cũng sẽ quay trở lại hệ thống, sau khi có sự ổn định về chính sách thuế với doanh nghiệp và hộ kinh doanh.

Vì vậy, mặt bằng lãi suất huy động được kỳ vọng duy trì ổn định và khó tăng mạnh trong những tháng còn lại của năm.

Đằng sau những biến động trên thị trường 1 (dân cư và tổ chức) và thị trường 2 (liên ngân hàng), theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang gia tăng trong bối cảnh nền kinh tế bước vào chu kỳ phục hồi tín dụng mạnh hơn, trong khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm hơn kỳ vọng.

“Đây là hiện tượng đáng chú ý, vì trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam vốn hoạt động dựa trên nền tảng “huy động ngắn hạn - cho vay trung, dài hạn”, nên khi huy động chậm lại, áp lực cân đối vốn sẽ xuất hiện khá nhanh” - ông Huân nêu vấn đề.

Không chỉ làm gia tăng áp lực huy động vốn, sự lệch pha về kỳ hạn còn kéo theo những rủi ro đáng lưu ý đối với an toàn hệ thống.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu lưu ý, nếu ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền khi đến hạn, hiện tượng rút tiền hàng loạt có thể xảy ra, đẩy tổ chức tín dụng vào tình trạng mất thanh khoản, thậm chí đổ vỡ. Đây không phải rủi ro mang tính giả định, mà từng xảy ra tại Việt Nam với trường hợp SCB, cũng như tại Mỹ và nhiều quốc gia khác.

Dẫu vậy, do áp lực nội tại khó thay đổi trong ngắn hạn. Việc phát triển các kênh dẫn vốn trung và dài hạn được xem là giải pháp cốt lõi giảm tải gánh nặng cung ứng vốn, qua đó, ổn định thanh khoản hệ thống ngân hàng và tạo dư địa tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 ▼20K 14,320 ▼20K
Trang sức 99.99 13,730 ▼20K 14,330 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▼2K 14,412 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▼2K 14,413 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▼2K 1,436 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▼2K 1,437 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▼2K 1,426 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▼198K 141,188 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▼150K 107,111 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▼136K 97,128 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▼122K 87,145 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▼117K 83,294 ▼117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44922K 5,962 ▼53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cập nhật: 02/10/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17756 18340
CAD 17714 17988 18608
CHF 30717 31093 31735
CNY 0 3833 3929
EUR 28560 28778 29861
GBP 33510 33898 34838
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14256 14846
SGD 19760 20042 20612
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,170
USD20 25,667 25,817 26,170
USD1 25,647 25,817 26,170
AUD 17,730 17,830 18,937
EUR 28,611 28,711 30,370
CAD 17,874 17,974 19,280
SGD 19,879 19,879 20,719
JPY 161.69 163.19 168.75
GBP 33,742 33,892 35,260
XAU 14,108,000 0 14,412,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/10/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30