Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
aa

Căng mình “bơm” tín dụng khi thanh khoản “khát” dần

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo ABBank cho biết, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của ngân hàng từng ở mức rất cao, thậm chí tiệm cận 120%.

Mô hình cho vay vượt quy mô vốn huy động bằng đòn bẩy lãi suất liên ngân hàng giá rẻ từng giúp nhiều nhà băng bứt phá. Tuy nhiên, giai đoạn 2025 - 2026, khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt, mô hình này lập tức bộc lộ rủi ro. Tại ABBank, các cuộc họp của Ủy ban Quản lý tài sản Nợ - Tài sản có (ALCO) nổ ra tranh luận gay gắt, có nên giảm tỷ lệ LDR từ 120% xuống 70% để an toàn, chấp nhận rủi ro thừa vốn và làm giảm hiệu quả kinh doanh.

Giải
Nguồn: Chứng khoán Rồng Việt. Đồ họa tư liệu

Thực tế, bức tranh thanh khoản hệ thống thay đổi toàn diện. Lãi suất qua đêm không còn bình yên ở mức 4%, mà biến động dữ dội mỗi kỳ tín dụng “dồn toa” cuối tháng, cuối quý, hay cuối năm. Đỉnh điểm là đầu tháng 2/2026 (trước Tết), lãi suất qua đêm vọt lên mức kỷ lục 17%/năm. Đến đầu tháng 6/2026 lại áp sát 11%/năm, nhiều thời điểm doanh số vay mượn vượt 1 triệu tỷ đồng. Thị trường tiền tệ căng thẳng tột độ như một cỗ máy phải hoạt động hết công suất.

Ngành ngân hàng đứng trước bài toán khó, vừa phải giữ an toàn và bền vững của hệ thống, vừa phải là cột trụ bơm vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, muốn “bơm” tín dụng quy mô lớn, đầu vào huy động phải đủ dồi dào, thanh khoản phải thật sự thông suốt.

Tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ toàn hệ thống đã vượt 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm trước. Trái lại, dòng tiền dân cư liên tục chảy sang vàng, chứng khoán, crypto, bất động sản... do lãi suất tiền gửi thấp kéo dài trước đó, khiến huy động vốn đi lùi, kéo dài sang năm thứ 4 liên tiếp.

Nhìn nhận về nguyên nhân sâu xa của áp lực thanh khoản tại Hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh vừa qua, bà Nguyễn Bích Liên - Phó Trưởng phòng Quản lý cân đối vốn Khối Tài chính VietinBank cho rằng, nguyên nhân xuất phát từ sự lệch pha giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng nguồn vốn của các ngân hàng, dẫn tới trạng thái thanh khoản bị thu hẹp và tạo ra áp lực phải cải thiện nhanh lãi suất huy động của một số ngân hàng.

Cuộc đua tìm nguồn vốn nóng lên

Để bù đắp thanh khoản, nhiều nhà băng lớn phải duy trì trạng thái vay ròng lớn trên thị trường liên ngân hàng tính đến cuối quý I/2026, điển hình như: VPBank (vay ròng 116,5 nghìn tỷ đồng), MB (91,6 nghìn tỷ đồng), Techcombank (62,5 nghìn tỷ đồng)...

Việc phụ thuộc lớn vào nguồn vốn ngắn hạn này giúp đáp ứng thanh khoản trước mắt, nhưng lại khiến các ngân hàng trở nên tổn thương và nhạy cảm hơn trước mọi biến động lãi suất, cũng như rủi ro thanh khoản khi thị trường đảo chiều.

Cẩn trọng dùng vốn ngắn hạn “nuôi” tín dụng dài hạn

“Một số ngân hàng đã sử dụng vốn từ thị trường 2 để đáp ứng nhu cầu vốn trên thị trường 1, đó là điều khá rủi ro và các ngân hàng cần đặc biệt thận trọng. Bởi đã có những giai đoạn lãi suất trên thị trường 2 tăng mạnh, từ đó, gây áp lực và ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trường 1”.

TS. Nguyễn Trí Hiếu

Số liệu của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cho thấy, cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng có sự chuyển dịch đáng kể, dưới áp lực tăng trưởng tín dụng cao kéo dài.

Theo đó, nguồn vốn huy động từ khách hàng, vốn được xem là “xương sống” của hệ thống, giảm tỷ trọng từ 81% năm 2020 xuống còn khoảng 68% vào quý I/2026, tương ứng giảm mạnh 13 điểm phần trăm. Cuộc đua lãi suất huy động bùng phát cuối quý III/2025 như một hệ quả tất yếu.

Trong khi đó, các ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn có chi phí cao hơn, để bù đắp khoảng trống thanh khoản. Theo đó, tỷ trọng vốn từ thị trường liên ngân hàng tăng từ 12% lên 19%, trong khi giấy tờ có giá tăng từ 6% lên 10%. Cùng với đó, tỷ lệ CASA toàn ngành giảm mạnh từ vùng 24 - 25% xuống dưới 21% trong quý I/2026 do mặt bằng lãi suất huy động tăng.

Diễn biến này cho thấy hệ thống ngân hàng đang phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn vốn bổ sung, kéo theo áp lực chi phí vốn và rủi ro thanh khoản gia tăng.

Lệch pha kỳ hạn và những rủi ro tiềm ẩn

Khi thị trường liên ngân hàng không đủ giải nhiệt, Ngân hàng Nhà nước buộc phải tăng cường bơm tiền qua kênh cầm cố giấy tờ có giá (OMO), đẩy quy mô lưu hành có lúc sát ngưỡng kỷ lục 500.000 tỷ đồng, với mức lãi suất nâng lên 4,5% từ cuối năm 2025. Trong bối cảnh nguồn trái phiếu Chính phủ cầm cố dần cạn kiệt, nhà điều hành cấp tập thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) USD - VND để giải tỏa “cơn khát” tiền VND cho hệ thống.

Nhận định về triển vọng lãi suất thời gian tới, đại diện VietinBank nhận thấy nhiều áp lực lớn. Nguyên nhân đến từ tình trạng nhập siêu các tháng đầu năm, quỹ dự trữ ngoại hối tương đối mỏng, áp lực lạm phát xuất phát từ mức tăng của giá xăng dầu, lộ trình giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể điều chỉnh.

Thanh khoản chịu sức ép, tín dụng khó đơn độc

“Về dài hạn, câu chuyện này cũng cho thấy nền kinh tế Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao, nhu cầu vốn sẽ rất lớn, nếu toàn bộ áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng thì rủi ro thanh khoản và rủi ro hệ thống sẽ gia tăng. Vì vậy, cần phát triển mạnh hơn thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, các định chế tài chính dài hạn và các kênh huy động vốn quốc tế để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng”.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, bà Nguyễn Bích Liên cho rằng, chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt và thận trọng đang là yếu tố hỗ trợ tích cực cho thị trường. Định hướng thúc đẩy đầu tư công có thể đem những nguồn thanh khoản lớn quay trở lại thị trường ngân hàng. Lượng tiền mặt cũng sẽ quay trở lại hệ thống, sau khi có sự ổn định về chính sách thuế với doanh nghiệp và hộ kinh doanh.

Vì vậy, mặt bằng lãi suất huy động được kỳ vọng duy trì ổn định và khó tăng mạnh trong những tháng còn lại của năm.

Đằng sau những biến động trên thị trường 1 (dân cư và tổ chức) và thị trường 2 (liên ngân hàng), theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang gia tăng trong bối cảnh nền kinh tế bước vào chu kỳ phục hồi tín dụng mạnh hơn, trong khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm hơn kỳ vọng.

“Đây là hiện tượng đáng chú ý, vì trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam vốn hoạt động dựa trên nền tảng “huy động ngắn hạn - cho vay trung, dài hạn”, nên khi huy động chậm lại, áp lực cân đối vốn sẽ xuất hiện khá nhanh” - ông Huân nêu vấn đề.

Không chỉ làm gia tăng áp lực huy động vốn, sự lệch pha về kỳ hạn còn kéo theo những rủi ro đáng lưu ý đối với an toàn hệ thống.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu lưu ý, nếu ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền khi đến hạn, hiện tượng rút tiền hàng loạt có thể xảy ra, đẩy tổ chức tín dụng vào tình trạng mất thanh khoản, thậm chí đổ vỡ. Đây không phải rủi ro mang tính giả định, mà từng xảy ra tại Việt Nam với trường hợp SCB, cũng như tại Mỹ và nhiều quốc gia khác.

Dẫu vậy, do áp lực nội tại khó thay đổi trong ngắn hạn. Việc phát triển các kênh dẫn vốn trung và dài hạn được xem là giải pháp cốt lõi giảm tải gánh nặng cung ứng vốn, qua đó, ổn định thanh khoản hệ thống ngân hàng và tạo dư địa tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80