Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 và Khu vực 2 vừa công bố kết luận thanh tra tại Public Bank chi nhánh Long An và Bình Dương, chỉ ra nhiều tồn tại trong thẩm định, phê duyệt và giám sát sau cấp tín dụng. Động thái này diễn ra khi ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng mạnh những năm gần đây, vượt 900 tỷ đồng cuối năm 2024, làm gia tăng áp lực kiểm soát rủi ro và chất lượng tài sản.
aa
Bức tranh kinh doanh "kém sắc" của khối ngân hàng ngoại Một ngân hàng ngoại tham vọng dẫn đầu thị trường bị thanh tra "điểm mặt" loạt vi phạm Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm, ngân hàng đối mặt áp lực rủi ro cao hơn

Hàng loạt hạn chế trong trong cấp tín dụng và giám sát cho vay

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 vừa ban hành Kết luận thanh tra số 07/KL-TTRA đối với Ngân hàng TNHH MTV Public Việt Nam - Chi nhánh Long An (Public Bank Long An) và ban hành Thông báo kết luận thanh tra số 09/TB-TTRA.

Theo thông báo kết luận thanh tra, tính đến ngày 31/10/2025, vốn huy động của Public Bank Long An đạt 64,774 tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt 377,572 tỷ đồng. Chi nhánh Long An chính thức khai trương hoạt động ngày 27/10/2023; trụ sở đặt tại số 257 -

259 đường Hùng Vương, khu phố Bình Cư 3, phường Long An, tỉnh Tây Ninh; chi nhánh có 21 nhân sự, Giám đốc là ông Lê Danh Sỹ.

Về kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra ghi nhận chi nhánh đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố; thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định; chấp hành các quy định về trình tự, thủ tục cho vay và điều kiện cho vay. Tuy nhiên, đơn vị vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác thẩm định cho vay; kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay. Các tồn tại, rủi ro trong hoạt động cho vay được đánh giá là chưa nghiêm trọng nhưng cần được khắc phục kịp thời

Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 yêu cầu Public Bank Long An thực hiện 9 kiến nghị, khuyến nghị để khắc phục các tồn tại, hạn chế, nhằm tiếp tục duy trì hoạt động an toàn, hiệu quả và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh
Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh. Ảnh minh họa.
Kết quả thanh tra ghi nhận trong thời kỳ thanh tra, Public Bank Bình Dương còn một số tồn tại, hạn chế, cần phải rà soát để khắc phục, chỉnh sửa nhằm giảm thiểu các rủi ro trong quá trình hoạt động liên quan đến công tác thẩm định, xét duyệt và quyết định cho vay; công tác kiểm tra, giám sát sau cấp tín dụng (gồm cho vay, bảo lãnh, chiết khấu); công tác thu thập hồ sơ vay vốn, chiết khấu; hạch toán ngoại bảng đối với dư nợ lãi phát sinh của khoản nợ đã được xử lý rủi ro và thực phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro.

Trước đó, Đoàn thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 cũng đã tiến hành thanh tra trực tiếp tại chi nhánh Bình Dương trong 15 ngày, từ ngày 19/12/2025 đến ngày 10/01/2026 và đã ban hành Kết luận thanh tra số 08/KL-TTRA.BD.

Chi nhánh Bình Dương có trụ sở đặt tại số 306 Đại lộ Bình Dương, phường Phú Lợi; mạng lưới gồm 01 trụ sở chính và 01 phòng giao dịch trực thuộc; người đứng đầu chi nhánh là ông Trương Quang Sơn - Giám đốc chi nhánh.

Về kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra ghi nhận một số ưu điểm như sau hơn 22 năm hoạt động, chi nhánh đã nỗ lực thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng, triển khai các chương trình, chính sách hỗ trợ phục hồi kinh tế theo chủ trương và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại, hạn chế trong quá trình hoạt động.

Về nguyên nhân, kết luận nêu rõ, những tồn tại, hạn chế nêu trên của Public Bank Bình Dương xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Trong đó, phần lớn xuất phát từ quy trình, quy định nội bộ chưa chặt chẽ, chưa kịp thời cập nhật, sửa đổi phù hợp với quy định hiện hành.

"Một số cán bộ thiếu biện pháp quản lý, giám sát khoản vay khách hàng; chưa quan tâm sâu sát trong khâu thu thập tài liệu, chứng từ chứng minh nội dung thẩm định, kiểm tra, kiểm soát chứng từ giao dịch và chưa tuân thủ triệt để quy định nội bộ, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 nêu rõ.

Về trách nhiệm, các tồn tại, vi phạm và hạn chế thuộc trách nhiệm của Ban lãnh đạo chi nhánh, Phòng giao dịch, các phòng nghiệp vụ liên quan và các cá nhân được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện công việc trong từng thời điểm.

Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 đã đưa ra 07 khuyến nghị và yêu cầu thực hiện 11 kiến nghị nhằm khắc phục tồn tại, hạn chế, bảo đảm chi nhánh hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng quy định pháp luật.

Nợ xấu tăng vọt trên 900 tỷ đồng, lợi nhuận lao dốc

Ngân hàng TNHH MTV Public Việt Nam là ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo Giấy phép số 38/GP-NHNN ngày 24/3/2016.

Public Bank Vietnam, tiền thân là VID Public Bank, được thành lập vào ngày 25/3/1992 với tư cách là một ngân hàng liên doanh giữa BIDV với Ngân hàng Public Bank Berhad (Malaysia). Vào ngày 1/4/2016, Public Bank Vietnam đã trở thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài thuộc sở hữu của tập đoàn Public Bank. Hai phân khúc kinh doanh cốt lõi là ngân hàng bán lẻ và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, với mạng lưới lên 40 chi nhánh và phòng giao dịch.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Tính từ giai đoạn 2016 - 2024, dư nợ cho vay khách hàng của Public Bank duy trì xu hướng tăng trưởng tương đối rõ nét gấp 4 lần, song quy mô dư nợ vẫn hạn chế, đạt trên 29.000 tỷ đồng cho vay khách hàng tính đến cuối năm 2024. Đáng chú ý, đà tăng trưởng đã chậm lại trong năm 2023 khi dư nợ chỉ tăng 5,8%, trước khi cải thiện lên mức 10,9% trong năm 2024.

Song hành với tăng trưởng dư nợ là sự gia tăng đáng kể của nợ xấu (nhóm 3 - 5), tăng gấp gần 6 lần giai đoạn này. Theo đó, năm 2017 - 2019, quy mô nợ xấu duy trì ở mức thấp, dưới 200 tỷ đồng.

Đến năm 2023, quy mô nợ xấu tăng vọt lên 881,5 tỷ đồng, gần gấp đôi năm 2022, kéo tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cho vay lên 3,4%, mức cao nhất trong cả giai đoạn phân tích. Diễn biến này chủ yếu xuất phát từ sự gia tăng đột biến của nợ nhóm 4 lên 403,7 tỷ đồng và nợ nhóm 5 lên 365,3 tỷ đồng, cho thấy áp lực đáng kể đối với chất lượng tín dụng của ngân hàng. Năm 2024, quy mô nợ xấu tăng lên 913,2 tỷ đồng.

Theo lãnh đạo Public Bank Vietnam, năm 2024, ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế là 335,75 tỷ đồng, giảm 221,2 tỷ đồng, tương đương 38,62%, chủ yếu do trích lập dự phòng cho các khoản vay quá hạn là 9,1 tỷ đồng và chi phí hoạt động tăng thêm 108,5 tỷ đồng cho việc phát triển mạng lưới.

Theo báo cáo tài chính mới nhất được công bố, lợi nhuận trước thuế năm 2024 của Public Bank Vietnam giảm mạnh 38,6% so với cùng kỳ, tương ứng giảm khoảng 211,2 tỷ đồng, còn 335,8 tỷ đồng.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự suy giảm của hoạt động kinh doanh cốt lõi, trong khi chi phí vận hành và dự phòng vẫn duy trì ở mức cao.

Cụ thể, dù dư nợ cho vay khách hàng tăng gần 11% nhưng thu nhập lãi thuần giảm 13,1%, tương ứng giảm 194,4 tỷ đồng, xuống 1.287,5 tỷ đồng. Hoạt động dịch vụ giảm nhẹ còn 48,2 tỷ đồng; hoạt động kinh doanh ngoại hối lỗ 34,3 tỷ đồng. Tính chung tổng thu nhập hoạt động giảm 6,3%, còn 1.383,9 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí hoạt động lại tăng 14,3%, khiến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng giảm mạnh 28%.

Bên cạnh đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tiếp tục tăng 5,2% lên 183,2 tỷ đồng, cho thấy ngân hàng vẫn phải tăng cường trích lập trong bối cảnh chất lượng tài sản chịu áp lực. Dự phòng cho nợ xấu được ngân hàng công bố chỉ đạt 36,1% cuối năm 2024, phản ánh bộ đệm dự phòng còn mỏng và tiềm ẩn rủi ro nếu nợ xấu tiếp tục gia tăng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30