Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 và Khu vực 2 vừa công bố kết luận thanh tra tại Public Bank chi nhánh Long An và Bình Dương, chỉ ra nhiều tồn tại trong thẩm định, phê duyệt và giám sát sau cấp tín dụng. Động thái này diễn ra khi ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng mạnh những năm gần đây, vượt 900 tỷ đồng cuối năm 2024, làm gia tăng áp lực kiểm soát rủi ro và chất lượng tài sản.
aa
Bức tranh kinh doanh "kém sắc" của khối ngân hàng ngoại Một ngân hàng ngoại tham vọng dẫn đầu thị trường bị thanh tra "điểm mặt" loạt vi phạm Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm, ngân hàng đối mặt áp lực rủi ro cao hơn

Hàng loạt hạn chế trong trong cấp tín dụng và giám sát cho vay

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 vừa ban hành Kết luận thanh tra số 07/KL-TTRA đối với Ngân hàng TNHH MTV Public Việt Nam - Chi nhánh Long An (Public Bank Long An) và ban hành Thông báo kết luận thanh tra số 09/TB-TTRA.

Theo thông báo kết luận thanh tra, tính đến ngày 31/10/2025, vốn huy động của Public Bank Long An đạt 64,774 tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt 377,572 tỷ đồng. Chi nhánh Long An chính thức khai trương hoạt động ngày 27/10/2023; trụ sở đặt tại số 257 -

259 đường Hùng Vương, khu phố Bình Cư 3, phường Long An, tỉnh Tây Ninh; chi nhánh có 21 nhân sự, Giám đốc là ông Lê Danh Sỹ.

Về kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra ghi nhận chi nhánh đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố; thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định; chấp hành các quy định về trình tự, thủ tục cho vay và điều kiện cho vay. Tuy nhiên, đơn vị vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác thẩm định cho vay; kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay. Các tồn tại, rủi ro trong hoạt động cho vay được đánh giá là chưa nghiêm trọng nhưng cần được khắc phục kịp thời

Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 yêu cầu Public Bank Long An thực hiện 9 kiến nghị, khuyến nghị để khắc phục các tồn tại, hạn chế, nhằm tiếp tục duy trì hoạt động an toàn, hiệu quả và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh
Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh. Ảnh minh họa.
Kết quả thanh tra ghi nhận trong thời kỳ thanh tra, Public Bank Bình Dương còn một số tồn tại, hạn chế, cần phải rà soát để khắc phục, chỉnh sửa nhằm giảm thiểu các rủi ro trong quá trình hoạt động liên quan đến công tác thẩm định, xét duyệt và quyết định cho vay; công tác kiểm tra, giám sát sau cấp tín dụng (gồm cho vay, bảo lãnh, chiết khấu); công tác thu thập hồ sơ vay vốn, chiết khấu; hạch toán ngoại bảng đối với dư nợ lãi phát sinh của khoản nợ đã được xử lý rủi ro và thực phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro.

Trước đó, Đoàn thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 cũng đã tiến hành thanh tra trực tiếp tại chi nhánh Bình Dương trong 15 ngày, từ ngày 19/12/2025 đến ngày 10/01/2026 và đã ban hành Kết luận thanh tra số 08/KL-TTRA.BD.

Chi nhánh Bình Dương có trụ sở đặt tại số 306 Đại lộ Bình Dương, phường Phú Lợi; mạng lưới gồm 01 trụ sở chính và 01 phòng giao dịch trực thuộc; người đứng đầu chi nhánh là ông Trương Quang Sơn - Giám đốc chi nhánh.

Về kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra ghi nhận một số ưu điểm như sau hơn 22 năm hoạt động, chi nhánh đã nỗ lực thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng, triển khai các chương trình, chính sách hỗ trợ phục hồi kinh tế theo chủ trương và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại, hạn chế trong quá trình hoạt động.

Về nguyên nhân, kết luận nêu rõ, những tồn tại, hạn chế nêu trên của Public Bank Bình Dương xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Trong đó, phần lớn xuất phát từ quy trình, quy định nội bộ chưa chặt chẽ, chưa kịp thời cập nhật, sửa đổi phù hợp với quy định hiện hành.

"Một số cán bộ thiếu biện pháp quản lý, giám sát khoản vay khách hàng; chưa quan tâm sâu sát trong khâu thu thập tài liệu, chứng từ chứng minh nội dung thẩm định, kiểm tra, kiểm soát chứng từ giao dịch và chưa tuân thủ triệt để quy định nội bộ, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 nêu rõ.

Về trách nhiệm, các tồn tại, vi phạm và hạn chế thuộc trách nhiệm của Ban lãnh đạo chi nhánh, Phòng giao dịch, các phòng nghiệp vụ liên quan và các cá nhân được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện công việc trong từng thời điểm.

Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 đã đưa ra 07 khuyến nghị và yêu cầu thực hiện 11 kiến nghị nhằm khắc phục tồn tại, hạn chế, bảo đảm chi nhánh hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng quy định pháp luật.

Nợ xấu tăng vọt trên 900 tỷ đồng, lợi nhuận lao dốc

Ngân hàng TNHH MTV Public Việt Nam là ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo Giấy phép số 38/GP-NHNN ngày 24/3/2016.

Public Bank Vietnam, tiền thân là VID Public Bank, được thành lập vào ngày 25/3/1992 với tư cách là một ngân hàng liên doanh giữa BIDV với Ngân hàng Public Bank Berhad (Malaysia). Vào ngày 1/4/2016, Public Bank Vietnam đã trở thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài thuộc sở hữu của tập đoàn Public Bank. Hai phân khúc kinh doanh cốt lõi là ngân hàng bán lẻ và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, với mạng lưới lên 40 chi nhánh và phòng giao dịch.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Tính từ giai đoạn 2016 - 2024, dư nợ cho vay khách hàng của Public Bank duy trì xu hướng tăng trưởng tương đối rõ nét gấp 4 lần, song quy mô dư nợ vẫn hạn chế, đạt trên 29.000 tỷ đồng cho vay khách hàng tính đến cuối năm 2024. Đáng chú ý, đà tăng trưởng đã chậm lại trong năm 2023 khi dư nợ chỉ tăng 5,8%, trước khi cải thiện lên mức 10,9% trong năm 2024.

Song hành với tăng trưởng dư nợ là sự gia tăng đáng kể của nợ xấu (nhóm 3 - 5), tăng gấp gần 6 lần giai đoạn này. Theo đó, năm 2017 - 2019, quy mô nợ xấu duy trì ở mức thấp, dưới 200 tỷ đồng.

Đến năm 2023, quy mô nợ xấu tăng vọt lên 881,5 tỷ đồng, gần gấp đôi năm 2022, kéo tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cho vay lên 3,4%, mức cao nhất trong cả giai đoạn phân tích. Diễn biến này chủ yếu xuất phát từ sự gia tăng đột biến của nợ nhóm 4 lên 403,7 tỷ đồng và nợ nhóm 5 lên 365,3 tỷ đồng, cho thấy áp lực đáng kể đối với chất lượng tín dụng của ngân hàng. Năm 2024, quy mô nợ xấu tăng lên 913,2 tỷ đồng.

Theo lãnh đạo Public Bank Vietnam, năm 2024, ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế là 335,75 tỷ đồng, giảm 221,2 tỷ đồng, tương đương 38,62%, chủ yếu do trích lập dự phòng cho các khoản vay quá hạn là 9,1 tỷ đồng và chi phí hoạt động tăng thêm 108,5 tỷ đồng cho việc phát triển mạng lưới.

Theo báo cáo tài chính mới nhất được công bố, lợi nhuận trước thuế năm 2024 của Public Bank Vietnam giảm mạnh 38,6% so với cùng kỳ, tương ứng giảm khoảng 211,2 tỷ đồng, còn 335,8 tỷ đồng.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự suy giảm của hoạt động kinh doanh cốt lõi, trong khi chi phí vận hành và dự phòng vẫn duy trì ở mức cao.

Cụ thể, dù dư nợ cho vay khách hàng tăng gần 11% nhưng thu nhập lãi thuần giảm 13,1%, tương ứng giảm 194,4 tỷ đồng, xuống 1.287,5 tỷ đồng. Hoạt động dịch vụ giảm nhẹ còn 48,2 tỷ đồng; hoạt động kinh doanh ngoại hối lỗ 34,3 tỷ đồng. Tính chung tổng thu nhập hoạt động giảm 6,3%, còn 1.383,9 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí hoạt động lại tăng 14,3%, khiến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng giảm mạnh 28%.

Bên cạnh đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tiếp tục tăng 5,2% lên 183,2 tỷ đồng, cho thấy ngân hàng vẫn phải tăng cường trích lập trong bối cảnh chất lượng tài sản chịu áp lực. Dự phòng cho nợ xấu được ngân hàng công bố chỉ đạt 36,1% cuối năm 2024, phản ánh bộ đệm dự phòng còn mỏng và tiềm ẩn rủi ro nếu nợ xấu tiếp tục gia tăng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80