Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 và Khu vực 2 vừa công bố kết luận thanh tra tại Public Bank chi nhánh Long An và Bình Dương, chỉ ra nhiều tồn tại trong thẩm định, phê duyệt và giám sát sau cấp tín dụng. Động thái này diễn ra khi ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng mạnh những năm gần đây, vượt 900 tỷ đồng cuối năm 2024, làm gia tăng áp lực kiểm soát rủi ro và chất lượng tài sản.
aa
Bức tranh kinh doanh "kém sắc" của khối ngân hàng ngoại Một ngân hàng ngoại tham vọng dẫn đầu thị trường bị thanh tra "điểm mặt" loạt vi phạm Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm, ngân hàng đối mặt áp lực rủi ro cao hơn

Hàng loạt hạn chế trong trong cấp tín dụng và giám sát cho vay

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 vừa ban hành Kết luận thanh tra số 07/KL-TTRA đối với Ngân hàng TNHH MTV Public Việt Nam - Chi nhánh Long An (Public Bank Long An) và ban hành Thông báo kết luận thanh tra số 09/TB-TTRA.

Theo thông báo kết luận thanh tra, tính đến ngày 31/10/2025, vốn huy động của Public Bank Long An đạt 64,774 tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt 377,572 tỷ đồng. Chi nhánh Long An chính thức khai trương hoạt động ngày 27/10/2023; trụ sở đặt tại số 257 -

259 đường Hùng Vương, khu phố Bình Cư 3, phường Long An, tỉnh Tây Ninh; chi nhánh có 21 nhân sự, Giám đốc là ông Lê Danh Sỹ.

Về kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra ghi nhận chi nhánh đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố; thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định; chấp hành các quy định về trình tự, thủ tục cho vay và điều kiện cho vay. Tuy nhiên, đơn vị vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác thẩm định cho vay; kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay. Các tồn tại, rủi ro trong hoạt động cho vay được đánh giá là chưa nghiêm trọng nhưng cần được khắc phục kịp thời

Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 yêu cầu Public Bank Long An thực hiện 9 kiến nghị, khuyến nghị để khắc phục các tồn tại, hạn chế, nhằm tiếp tục duy trì hoạt động an toàn, hiệu quả và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh
Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh. Ảnh minh họa.
Kết quả thanh tra ghi nhận trong thời kỳ thanh tra, Public Bank Bình Dương còn một số tồn tại, hạn chế, cần phải rà soát để khắc phục, chỉnh sửa nhằm giảm thiểu các rủi ro trong quá trình hoạt động liên quan đến công tác thẩm định, xét duyệt và quyết định cho vay; công tác kiểm tra, giám sát sau cấp tín dụng (gồm cho vay, bảo lãnh, chiết khấu); công tác thu thập hồ sơ vay vốn, chiết khấu; hạch toán ngoại bảng đối với dư nợ lãi phát sinh của khoản nợ đã được xử lý rủi ro và thực phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro.

Trước đó, Đoàn thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 cũng đã tiến hành thanh tra trực tiếp tại chi nhánh Bình Dương trong 15 ngày, từ ngày 19/12/2025 đến ngày 10/01/2026 và đã ban hành Kết luận thanh tra số 08/KL-TTRA.BD.

Chi nhánh Bình Dương có trụ sở đặt tại số 306 Đại lộ Bình Dương, phường Phú Lợi; mạng lưới gồm 01 trụ sở chính và 01 phòng giao dịch trực thuộc; người đứng đầu chi nhánh là ông Trương Quang Sơn - Giám đốc chi nhánh.

Về kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra ghi nhận một số ưu điểm như sau hơn 22 năm hoạt động, chi nhánh đã nỗ lực thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng, triển khai các chương trình, chính sách hỗ trợ phục hồi kinh tế theo chủ trương và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại, hạn chế trong quá trình hoạt động.

Về nguyên nhân, kết luận nêu rõ, những tồn tại, hạn chế nêu trên của Public Bank Bình Dương xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Trong đó, phần lớn xuất phát từ quy trình, quy định nội bộ chưa chặt chẽ, chưa kịp thời cập nhật, sửa đổi phù hợp với quy định hiện hành.

"Một số cán bộ thiếu biện pháp quản lý, giám sát khoản vay khách hàng; chưa quan tâm sâu sát trong khâu thu thập tài liệu, chứng từ chứng minh nội dung thẩm định, kiểm tra, kiểm soát chứng từ giao dịch và chưa tuân thủ triệt để quy định nội bộ, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 nêu rõ.

Về trách nhiệm, các tồn tại, vi phạm và hạn chế thuộc trách nhiệm của Ban lãnh đạo chi nhánh, Phòng giao dịch, các phòng nghiệp vụ liên quan và các cá nhân được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện công việc trong từng thời điểm.

Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 đã đưa ra 07 khuyến nghị và yêu cầu thực hiện 11 kiến nghị nhằm khắc phục tồn tại, hạn chế, bảo đảm chi nhánh hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng quy định pháp luật.

Nợ xấu tăng vọt trên 900 tỷ đồng, lợi nhuận lao dốc

Ngân hàng TNHH MTV Public Việt Nam là ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo Giấy phép số 38/GP-NHNN ngày 24/3/2016.

Public Bank Vietnam, tiền thân là VID Public Bank, được thành lập vào ngày 25/3/1992 với tư cách là một ngân hàng liên doanh giữa BIDV với Ngân hàng Public Bank Berhad (Malaysia). Vào ngày 1/4/2016, Public Bank Vietnam đã trở thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài thuộc sở hữu của tập đoàn Public Bank. Hai phân khúc kinh doanh cốt lõi là ngân hàng bán lẻ và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, với mạng lưới lên 40 chi nhánh và phòng giao dịch.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Tính từ giai đoạn 2016 - 2024, dư nợ cho vay khách hàng của Public Bank duy trì xu hướng tăng trưởng tương đối rõ nét gấp 4 lần, song quy mô dư nợ vẫn hạn chế, đạt trên 29.000 tỷ đồng cho vay khách hàng tính đến cuối năm 2024. Đáng chú ý, đà tăng trưởng đã chậm lại trong năm 2023 khi dư nợ chỉ tăng 5,8%, trước khi cải thiện lên mức 10,9% trong năm 2024.

Song hành với tăng trưởng dư nợ là sự gia tăng đáng kể của nợ xấu (nhóm 3 - 5), tăng gấp gần 6 lần giai đoạn này. Theo đó, năm 2017 - 2019, quy mô nợ xấu duy trì ở mức thấp, dưới 200 tỷ đồng.

Đến năm 2023, quy mô nợ xấu tăng vọt lên 881,5 tỷ đồng, gần gấp đôi năm 2022, kéo tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cho vay lên 3,4%, mức cao nhất trong cả giai đoạn phân tích. Diễn biến này chủ yếu xuất phát từ sự gia tăng đột biến của nợ nhóm 4 lên 403,7 tỷ đồng và nợ nhóm 5 lên 365,3 tỷ đồng, cho thấy áp lực đáng kể đối với chất lượng tín dụng của ngân hàng. Năm 2024, quy mô nợ xấu tăng lên 913,2 tỷ đồng.

Theo lãnh đạo Public Bank Vietnam, năm 2024, ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế là 335,75 tỷ đồng, giảm 221,2 tỷ đồng, tương đương 38,62%, chủ yếu do trích lập dự phòng cho các khoản vay quá hạn là 9,1 tỷ đồng và chi phí hoạt động tăng thêm 108,5 tỷ đồng cho việc phát triển mạng lưới.

Theo báo cáo tài chính mới nhất được công bố, lợi nhuận trước thuế năm 2024 của Public Bank Vietnam giảm mạnh 38,6% so với cùng kỳ, tương ứng giảm khoảng 211,2 tỷ đồng, còn 335,8 tỷ đồng.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự suy giảm của hoạt động kinh doanh cốt lõi, trong khi chi phí vận hành và dự phòng vẫn duy trì ở mức cao.

Cụ thể, dù dư nợ cho vay khách hàng tăng gần 11% nhưng thu nhập lãi thuần giảm 13,1%, tương ứng giảm 194,4 tỷ đồng, xuống 1.287,5 tỷ đồng. Hoạt động dịch vụ giảm nhẹ còn 48,2 tỷ đồng; hoạt động kinh doanh ngoại hối lỗ 34,3 tỷ đồng. Tính chung tổng thu nhập hoạt động giảm 6,3%, còn 1.383,9 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí hoạt động lại tăng 14,3%, khiến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng giảm mạnh 28%.

Bên cạnh đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tiếp tục tăng 5,2% lên 183,2 tỷ đồng, cho thấy ngân hàng vẫn phải tăng cường trích lập trong bối cảnh chất lượng tài sản chịu áp lực. Dự phòng cho nợ xấu được ngân hàng công bố chỉ đạt 36,1% cuối năm 2024, phản ánh bộ đệm dự phòng còn mỏng và tiềm ẩn rủi ro nếu nợ xấu tiếp tục gia tăng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80