Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm, ngân hàng đối mặt áp lực rủi ro cao hơn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo FiinRatings, tỷ lệ bao phủ nợ xấu điều chỉnh của ngành ngân hàng đang giảm và thấp hơn mức đỉnh năm 2022, phản ánh xu hướng phụ thuộc nhiều hơn vào hoạt động xóa và thu hồi nợ, thay vì chỉ gia tăng trích lập dự phòng. Bộ đệm chống chịu rủi ro vì thế đang thu hẹp, ngay cả ở những ngân hàng có năng lực tín dụng cao.
aa
Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều? Ngân hàng lo ngại tranh chấp, nợ xấu khó gỡ khi chưa rõ tiêu chí tài sản bảo đảm Quy định mới siết mua nợ xấu, hạn chế nắm giữ bất động sản quá 5 năm

Theo báo cáo từ Công ty cổ phần FiinRatings, tỷ lệ nợ có vấn đề, gồm cả nợ cần chú ý (nợ nhóm 2), nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) và các khoản nợ xấu đã được bán hoặc chuyển giao cho Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đang giảm dần trong giai đoạn 2024 đến nửa đầu năm 2025 so với mức đỉnh năm 2023.

Theo đó, nợ cần chú ý giảm cũng còn khoảng 1,3% trong nửa đầu năm 2025, so với mức gần 1,9% của năm 2024, cho thấy số lượng nợ xấu tiềm tàng đang thu hẹp. Trong khi đó, tỷ lệ xóa sổ nợ ròng trên dư nợ bình quân duy trì ổn định ở mức 1,1 - 1,2%, tương đương với năm 2023.

"Khi các chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ dần hết hiệu lực, một số khoản vay có thể chuyển nhóm sang nợ cần chú ý hoặc nợ xấu. Rủi ro này tập trung cao hơn ở các ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ, có bộ đệm vốn mỏng" - FiinRatings đánh giá.

tỷ lệ nợ có vấn đề, g
Nguồn: FiinRatings.

Cũng theo FiinRatings, xu hướng trích lập dự phòng sớm hơn trong chu kỳ tín dụng được thể hiện rõ, khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu cho cả nợ cần chú ý và nợ xấu tăng từ khoảng 46% lên 53% trong giai đoạn nửa đầu năm 2024 đến nửa đầu năm 2025. Điều này phản ánh các ngân hàng chủ động hơn trong việc trích lập dự phòng rủi ro.

"Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu điều chỉnh lại có xu hướng giảm nhẹ và vẫn thấp hơn mức đỉnh của năm 2022, cho thấy các ngân hàng đang dựa nhiều hơn vào hoạt động xóa nợ và thu hồi nợ, thay vì chỉ gia tăng trích lập dự phòng" - nhóm phân tích từ FiinRatings nhận định.

Ngay cả đối với các ngân hàng có năng lực tín dụng cao, tỷ lệ bao phủ nợ xấu và tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đều giảm, cho thấy bộ đệm chống chịu rủi ro đang thu hẹp trước áp lực về chất lượng tài sản.

Bên cạnh đó, từ năm 2025, việc triển khai chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 9 đối với các ngân hàng niêm yết và doanh nghiệp nhà nước sẽ yêu cầu mô hình ước tính tổn thất dự kiến mang tính dự báo cao hơn, đồng thời tăng cường yêu cầu công bố thông tin minh bạch.

Các ngân hàng có năng lực dữ liệu và hệ thống quản trị rủi ro tốt sẽ thích ứng thuận lợi, trong khi những ngân hàng yếu hơn có thể phải gia tăng trích lập dự phòng để đáp ứng chuẩn mới.

Bên cạnh đó, việc hoàn thiện khung pháp lý cho VAMC và các công ty quản lý nợ (AMC), cũng như thực thi hiệu quả quy định khi luật hoá Nghị quyết 42/2017/QH14, với các quy định rõ ràng hơn về mua bán, xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm, được kỳ vọng sẽ đẩy nhanh quá trình thu hồi nợ, tạo tác động tích cực cho các ngân hàng có năng lực xử lý nợ mạnh và danh mục tài sản bảo đảm lớn, đặc biệt là bất động sản.

Ngoài ra, mức độ phân hóa về chất lượng tài sản ngày càng rõ nét. Theo FiinRatings, các ngân hàng thuộc nhóm xếp hạng cao (tương đương từ AA đến A) ghi nhận tỷ lệ nợ xấu thấp hơn, ở mức 1,3 - 2% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao hơn, đạt khoảng 74 - 103%. Trong khi đó, các ngân hàng thuộc nhóm xếp hạng thấp hơn (từ BB trở xuống) lại có tỷ lệ nợ xấu cao hơn, từ 5 - 6% trở lên và tỷ lệ bao phủ nợ xấu chỉ đạt khoảng 30 - 50%.

Ngoại trừ nhóm ngân hàng có xếp hạng cao, phần lớn các nhóm còn lại đều ghi nhận sự suy giảm trong tỷ trọng vốn cấp 1 trong cơ cấu vốn, phản ánh cấu trúc vốn đang yếu đi, đặc biệt là ở nhóm ngân hàng có mức xếp hạng trung bình và thấp (từ BBB trở xuống). Xu hướng này, cùng với sự sụt giảm về khả năng sinh lời, có thể tiếp tục làm suy yếu nền tảng vốn của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

(TBTCO) - Tiếp và làm việc với đoàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Bảo hiểm FWD, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế uy tín như FWD đầu tư lâu dài, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vừa có thêm hai gương mặt mới là VietSure Insurance (VSI) và ACB Insurance, nâng tổng số doanh nghiệp trong khối lên con số 34. Được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành bảo hiểm phi nhân thọ đang trở thành điểm đến hấp dẫn với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,950 ▲150K 15,350 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,950 ▲150K 15,350 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,950 ▲150K 15,350 ▲150K
NL 99.99 14,250 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,150 ▲100K
Trang sức 99.9 14,660 ▲150K 15,260 ▲150K
Trang sức 99.99 14,670 ▲150K 15,270 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,476 ▲1329K 15,062 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,476 ▲1329K 15,063 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,471 ▲6K 1,501 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,471 ▲6K 1,502 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,446 ▲11K 1,491 ▲1343K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,624 ▲1089K 147,624 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,186 ▲825K 111,986 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,748 ▲91657K 101,548 ▲100540K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,131 ▼72508K 9,111 ▼81328K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,284 ▲641K 87,084 ▲641K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,531 ▲459K 62,331 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Cập nhật: 25/08/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18143 18418 18995
CAD 18319 18595 19210
CHF 31851 32232 32876
CNY 0 3840 3950
EUR 29815 30038 31117
GBP 34791 35184 36117
HKD 0 3202 3404
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15252 15837
SGD 20014 20296 20865
THB 712 775 828
USD (1,2) 25863 0 0
USD (5,10,20) 25903 0 0
USD (50,100) 25931 25945 26311
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,867 29,891 31,307
JPY 159.53 159.82 169.47
GBP 34,973 35,068 36,273
AUD 18,335 18,401 19,097
CAD 18,505 18,564 19,254
CHF 32,116 32,216 33,158
SGD 20,138 20,201 20,993
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.4 18.15 19.75
THB 760.07 769.46 823.83
NZD 15,232 15,373 15,831
SEK - 2,703 2,798
DKK - 4,006 4,147
NOK - 2,761 2,859
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,034.48 - 6,814.11
TWD 739.76 - 896.18
SAR - 6,842.73 7,207.33
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,921 30,041 31,239
GBP 35,007 35,148 36,186
HKD 3,266 3,279 3,397
CHF 31,986 32,114 33,051
JPY 160.01 160.65 168.61
AUD 18,360 18,434 19,030
SGD 20,217 20,298 20,896
THB 778 781 818
CAD 18,530 18,604 19,198
NZD 15,339 15,888
KRW 18.09 20.08
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26330
AUD 18352 18452 19377
CAD 18522 18622 19638
CHF 32135 32165 33755
CNY 3827.5 3852.5 3988
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30037 30067 31792
GBP 35142 35192 36945
HKD 0 3330 0
JPY 160.57 161.07 171.63
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15383 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20195 20325 21048
THB 0 742.7 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,990 26,040 26,370
USD20 25,940 26,040 26,845
USD1 24,335 26,040 26,895
AUD 18,415 18,515 19,635
EUR 29,866 29,966 31,647
CAD 18,487 18,587 19,909
SGD 20,297 20,447 21,018
JPY 161.33 162.83 168.51
GBP 35,069 35,219 36,494
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,742 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/08/2026 13:00
Ngân hàng