Ngân hàng tiếp sức để gạo Việt Nam vững vàng hơn trước biến động

Đông Thịnh
(TBTCO) - Để tránh nguy cơ “đứt gãy” chuỗi cung ứng lúa gạo, ngành ngân hàng đang đóng vai trò then chốt với nguồn tín dụng ưu đãi lãi suất thấp, trở thành “mạch sống” hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư thu mua, dự trữ, chế biến sâu, hướng tới chuỗi giá trị lúa gạo tự chủ, bền vững hơn.
aa

Phụ thuộc thị trường xuất khẩu, yếu khâu dự trữ

Chính phủ Philippines vừa quyết định gia hạn lệnh cấm nhập khẩu gạo đến hết năm 2025, kéo dài thêm 2 tháng so với kế hoạch ban đầu và dự kiến chỉ nối lại nhập khẩu từ tháng 4/2026. Diễn biến này được dự báo sẽ tác động đáng kể tới xuất khẩu gạo của Việt Nam, nhất là khi Philippines là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo.

Ngân hàng tiếp sức để gạo Việt Nam vững vàng hơn trước biến động
Nông dân chở lúa vừa thu hoạch ra ghe bán cho thương lái. Ảnh: Trọng Thiết

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo, đạt 3,55 tỷ USD, tăng nhẹ 0,1% về khối lượng, nhưng giảm 18,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Giá xuất khẩu gạo bình quân đạt khoảng 509 USD/tấn, giảm 18,6%. Riêng thị trường Philippines đạt hơn 2,9 triệu tấn, trị giá 1,4 tỷ USD, giảm gần 9% về lượng và 27% về trị giá; giá bình quân chỉ còn 490 USD/tấn, giảm khoảng 20%. Các chuyên gia nhận định, quý IV/2025 sẽ là giai đoạn đầy thách thức với xuất khẩu gạo Việt Nam, khi thị trường chủ lực này chưa sớm mở cửa trở lại.

Từ lệnh tạm ngừng nhập khẩu gạo của Philippines đã bộc lộ điểm yếu ngắn hạn của ngành lúa gạo Việt Nam, đó là sự phụ thuộc lớn vào một số thị trường xuất khẩu trọng điểm, đặc biệt là Philippines, trong khi khả năng điều tiết thị trường trong nước còn hạn chế. Khi thị trường này đột ngột dừng nhập, sức tiêu thụ và giá gạo trong nước lập tức bị ảnh hưởng, khiến nông dân, doanh nghiệp lo lắng; các hợp đồng xuất khẩu mới bị đình trệ, gây suy giảm doanh thu và gián đoạn kế hoạch kinh doanh.

Dòng tín dụng đúng hướng, mạch sống nuôi lớn ngành lúa gạo Việt

Tín dụng cho ngành lúa gạo, khi được dẫn đúng hướng, sẽ trở thành nguồn nuôi dưỡng cho kinh tế nông thôn, từ nông hộ sản xuất đến doanh nghiệp thu mua, chế biến. Những khoản vay thuận lợi hơn không chỉ giúp giảm áp lực vốn cho người trồng lúa, mà còn mang đến cơ hội mở rộng nhà xưởng, đầu tư kho lạnh và phát triển công nghệ chế biến sâu, biến ước mơ nâng tầm giá trị hạt gạo Việt trở nên gần hơn bao giờ hết.

Vấn đề then chốt là thị trường nội địa chưa đủ sức hấp thụ lượng cung dư thừa, trong khi hệ thống dự trữ và phân phối trong nước còn yếu, thiếu tính linh hoạt để ứng phó với các biến động bên ngoài.

Theo thống kê, tổng sản lượng lúa cả nước năm 2025 ước khoảng 43 - 43,5 triệu tấn, trong khi nhu cầu tiêu thụ nội địa chỉ khoảng 16 - 17 triệu tấn gạo (tương đương 29 - 30 triệu tấn lúa). Như vậy, lượng lúa gạo dư thừa rất lớn, phải phụ thuộc vào xuất khẩu.

Việt Nam có hơn 100 triệu dân, một thị trường nội địa lớn, nhưng hệ thống phân phối và ngành chế biến sâu từ gạo vẫn còn yếu. Thay vì chủ yếu xuất khẩu gạo trắng thô, việc phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng như bún, phở, bánh tráng, gạo hữu cơ hay gạo đặc sản cao cấp sẽ giúp nâng giá trị hạt gạo, mở rộng kênh tiêu thụ trong nước và giảm phụ thuộc vào xuất khẩu.

Từ "cú chặn dòng" nhập khẩu của Philippines, có thể thấy những bất cập trong chuỗi giá trị lúa gạo Việt Nam và đặt ra yêu cầu tái cơ cấu thị trường. Theo đó, không chỉ cần giải quyết khó khăn trước mắt trong tiêu thụ nội địa, hình thành hệ thống dự trữ và năng lực kinh tế đủ mạnh để ứng phó với biến động, mà còn đặt ra yêu cầu đa dạng thị trường xuất khẩu. Từ đó, hướng tới một ngành lúa gạo bền vững, tự chủ và có giá trị cao hơn.

Ngân hàng chung tay tháo gỡ

Một trong những "điểm nghẽn" lớn của chuỗi giá trị lúa gạo Việt Nam hiện nay là thiếu vốn đầu tư cho hạ tầng bảo quản và chế biến sau thu hoạch, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 23% diện tích đất nông nghiệp. Mỗi khi bước vào vụ thu hoạch rộ, lượng cung lúa tăng mạnh, trong khi hệ thống kho chứa, chế biến và tiêu thụ nội địa còn yếu, không thể hấp thụ sản lượng lớn trong thời gian ngắn.

Hệ quả là giá lúa thường giảm ngay tại ruộng, buộc nông dân phải bán tháo để giải phóng hàng, thu hồi vốn, đặc biệt trong bối cảnh thiếu hợp đồng xuất khẩu ổn định. Hơn nữa, khi thị trường xuất khẩu chững lại, giá lúa nội địa sụt giảm mạnh hơn, nông dân không có khả năng dự trữ, dẫn đến thiệt hại kép cả về năng suất và giá trị.

Thực tế nhiều năm qua, ngành ngân hàng luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực lúa gạo, từ xây dựng cơ chế tín dụng ưu tiên, chính sách hỗ trợ lãi suất đến triển khai các gói tín dụng nông nghiệp - nông thôn.

Theo các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo, Chính phủ ban hành rất nhiều cơ chế tín dụng ưu đãi với ngành lúa gạo, lãi suất cho vay lĩnh vực này cũng đang ở mức hấp dẫn, với trần lãi vay là 4,5%/năm.

Cùng với đó, tín dụng dành cho thu mua, tạm trữ, chế biến và xuất khẩu lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng, không chỉ mang ý nghĩa kinh tế - xã hội đối với vùng trọng điểm nông nghiệp này, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Tính đến hết tháng 9/2025, tổng dư nợ tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn đạt 768.814 tỷ đồng, tăng gần 10% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ tín dụng lúa gạo là 128.890 tỷ đồng, chiếm 16,76% dư nợ nông nghiệp - nông thôn. Những con số này cho thấy, nhiều hợp tác xã và nông dân đã có cơ hội tiếp cận vốn vay để mở rộng sản xuất, đầu tư vào chuỗi lúa gạo.

Riêng tại Ngân hàng khu vực 13, dư nợ tín dụng ngành lúa gạo đạt 59.248 tỷ đồng, tăng thêm 5.006 tỷ đồng, tương đương mức tăng 9,23% so với cuối năm trước, phản ánh rõ xu hướng dòng vốn đang chảy mạnh về vùng trọng điểm sản xuất lúa của cả nước. Tính chung dư nợ cho vay ngành lúa gạo của Ngân hàng khu vực 15 đạt 31.842 tỷ đồng, tăng 0,99% so cuối năm 2024, chiếm 9,6% tổng dư nợ.

Giữ dòng tín dụng thông suốt, gỡ nút thắt tiếp cận vốn

Với vai trò, ý nghĩa đóng góp quan trọng của ngành lúa gạo với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong thời gian tới, ngành ngân hàng sẽ triển khai các giải pháp trọng tâm.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13, 14 và 15 tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn không để xảy ra tình trạng người dân, doanh nghiệp có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật mà không được tiếp cận hoặc chậm tiếp cận vốn vay do các điều kiện, thủ tục phiền hà.

Chủ động cân đối nguồn vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn vay cho sản xuất, chế biến, thu mua, tạm trữ, tiêu thụ lúa gạo trong năm 2025, đặc biệt là vụ Đông Xuân tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện các biện pháp khác để giảm lãi suất cho vay. Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi.

Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các ngân hàng mở rộng hạn mức tín dụng, thời hạn cho vay đối với các doanh nghiệp có năng lực, có hệ thống kho chứa để mua gạo tạm trữ trong giai đoạn thị trường có biến động và giá mua thấp, đáp ứng đủ nhu cầu tín dụng phục vụ thu mua và xuất khẩu lúa gạo, nhất là thu mua lúa hàng hóa vụ Đông Xuân tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; hỗ trợ nông dân tái vụ; đơn giản hóa thủ tục xét duyệt cấp tín dụng, bao gồm các điều kiện về hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng thu mua lúa, tài sản bảo đảm.

Đông Thịnh

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80