Ngân hàng tiếp sức để gạo Việt Nam vững vàng hơn trước biến động

Đông Thịnh
(TBTCO) - Để tránh nguy cơ “đứt gãy” chuỗi cung ứng lúa gạo, ngành ngân hàng đang đóng vai trò then chốt với nguồn tín dụng ưu đãi lãi suất thấp, trở thành “mạch sống” hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư thu mua, dự trữ, chế biến sâu, hướng tới chuỗi giá trị lúa gạo tự chủ, bền vững hơn.
aa

Phụ thuộc thị trường xuất khẩu, yếu khâu dự trữ

Chính phủ Philippines vừa quyết định gia hạn lệnh cấm nhập khẩu gạo đến hết năm 2025, kéo dài thêm 2 tháng so với kế hoạch ban đầu và dự kiến chỉ nối lại nhập khẩu từ tháng 4/2026. Diễn biến này được dự báo sẽ tác động đáng kể tới xuất khẩu gạo của Việt Nam, nhất là khi Philippines là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo.

Ngân hàng tiếp sức để gạo Việt Nam vững vàng hơn trước biến động
Nông dân chở lúa vừa thu hoạch ra ghe bán cho thương lái. Ảnh: Trọng Thiết

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo, đạt 3,55 tỷ USD, tăng nhẹ 0,1% về khối lượng, nhưng giảm 18,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Giá xuất khẩu gạo bình quân đạt khoảng 509 USD/tấn, giảm 18,6%. Riêng thị trường Philippines đạt hơn 2,9 triệu tấn, trị giá 1,4 tỷ USD, giảm gần 9% về lượng và 27% về trị giá; giá bình quân chỉ còn 490 USD/tấn, giảm khoảng 20%. Các chuyên gia nhận định, quý IV/2025 sẽ là giai đoạn đầy thách thức với xuất khẩu gạo Việt Nam, khi thị trường chủ lực này chưa sớm mở cửa trở lại.

Từ lệnh tạm ngừng nhập khẩu gạo của Philippines đã bộc lộ điểm yếu ngắn hạn của ngành lúa gạo Việt Nam, đó là sự phụ thuộc lớn vào một số thị trường xuất khẩu trọng điểm, đặc biệt là Philippines, trong khi khả năng điều tiết thị trường trong nước còn hạn chế. Khi thị trường này đột ngột dừng nhập, sức tiêu thụ và giá gạo trong nước lập tức bị ảnh hưởng, khiến nông dân, doanh nghiệp lo lắng; các hợp đồng xuất khẩu mới bị đình trệ, gây suy giảm doanh thu và gián đoạn kế hoạch kinh doanh.

Dòng tín dụng đúng hướng, mạch sống nuôi lớn ngành lúa gạo Việt

Tín dụng cho ngành lúa gạo, khi được dẫn đúng hướng, sẽ trở thành nguồn nuôi dưỡng cho kinh tế nông thôn, từ nông hộ sản xuất đến doanh nghiệp thu mua, chế biến. Những khoản vay thuận lợi hơn không chỉ giúp giảm áp lực vốn cho người trồng lúa, mà còn mang đến cơ hội mở rộng nhà xưởng, đầu tư kho lạnh và phát triển công nghệ chế biến sâu, biến ước mơ nâng tầm giá trị hạt gạo Việt trở nên gần hơn bao giờ hết.

Vấn đề then chốt là thị trường nội địa chưa đủ sức hấp thụ lượng cung dư thừa, trong khi hệ thống dự trữ và phân phối trong nước còn yếu, thiếu tính linh hoạt để ứng phó với các biến động bên ngoài.

Theo thống kê, tổng sản lượng lúa cả nước năm 2025 ước khoảng 43 - 43,5 triệu tấn, trong khi nhu cầu tiêu thụ nội địa chỉ khoảng 16 - 17 triệu tấn gạo (tương đương 29 - 30 triệu tấn lúa). Như vậy, lượng lúa gạo dư thừa rất lớn, phải phụ thuộc vào xuất khẩu.

Việt Nam có hơn 100 triệu dân, một thị trường nội địa lớn, nhưng hệ thống phân phối và ngành chế biến sâu từ gạo vẫn còn yếu. Thay vì chủ yếu xuất khẩu gạo trắng thô, việc phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng như bún, phở, bánh tráng, gạo hữu cơ hay gạo đặc sản cao cấp sẽ giúp nâng giá trị hạt gạo, mở rộng kênh tiêu thụ trong nước và giảm phụ thuộc vào xuất khẩu.

Từ "cú chặn dòng" nhập khẩu của Philippines, có thể thấy những bất cập trong chuỗi giá trị lúa gạo Việt Nam và đặt ra yêu cầu tái cơ cấu thị trường. Theo đó, không chỉ cần giải quyết khó khăn trước mắt trong tiêu thụ nội địa, hình thành hệ thống dự trữ và năng lực kinh tế đủ mạnh để ứng phó với biến động, mà còn đặt ra yêu cầu đa dạng thị trường xuất khẩu. Từ đó, hướng tới một ngành lúa gạo bền vững, tự chủ và có giá trị cao hơn.

Ngân hàng chung tay tháo gỡ

Một trong những "điểm nghẽn" lớn của chuỗi giá trị lúa gạo Việt Nam hiện nay là thiếu vốn đầu tư cho hạ tầng bảo quản và chế biến sau thu hoạch, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 23% diện tích đất nông nghiệp. Mỗi khi bước vào vụ thu hoạch rộ, lượng cung lúa tăng mạnh, trong khi hệ thống kho chứa, chế biến và tiêu thụ nội địa còn yếu, không thể hấp thụ sản lượng lớn trong thời gian ngắn.

Hệ quả là giá lúa thường giảm ngay tại ruộng, buộc nông dân phải bán tháo để giải phóng hàng, thu hồi vốn, đặc biệt trong bối cảnh thiếu hợp đồng xuất khẩu ổn định. Hơn nữa, khi thị trường xuất khẩu chững lại, giá lúa nội địa sụt giảm mạnh hơn, nông dân không có khả năng dự trữ, dẫn đến thiệt hại kép cả về năng suất và giá trị.

Thực tế nhiều năm qua, ngành ngân hàng luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực lúa gạo, từ xây dựng cơ chế tín dụng ưu tiên, chính sách hỗ trợ lãi suất đến triển khai các gói tín dụng nông nghiệp - nông thôn.

Theo các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo, Chính phủ ban hành rất nhiều cơ chế tín dụng ưu đãi với ngành lúa gạo, lãi suất cho vay lĩnh vực này cũng đang ở mức hấp dẫn, với trần lãi vay là 4,5%/năm.

Cùng với đó, tín dụng dành cho thu mua, tạm trữ, chế biến và xuất khẩu lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng, không chỉ mang ý nghĩa kinh tế - xã hội đối với vùng trọng điểm nông nghiệp này, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Tính đến hết tháng 9/2025, tổng dư nợ tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn đạt 768.814 tỷ đồng, tăng gần 10% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ tín dụng lúa gạo là 128.890 tỷ đồng, chiếm 16,76% dư nợ nông nghiệp - nông thôn. Những con số này cho thấy, nhiều hợp tác xã và nông dân đã có cơ hội tiếp cận vốn vay để mở rộng sản xuất, đầu tư vào chuỗi lúa gạo.

Riêng tại Ngân hàng khu vực 13, dư nợ tín dụng ngành lúa gạo đạt 59.248 tỷ đồng, tăng thêm 5.006 tỷ đồng, tương đương mức tăng 9,23% so với cuối năm trước, phản ánh rõ xu hướng dòng vốn đang chảy mạnh về vùng trọng điểm sản xuất lúa của cả nước. Tính chung dư nợ cho vay ngành lúa gạo của Ngân hàng khu vực 15 đạt 31.842 tỷ đồng, tăng 0,99% so cuối năm 2024, chiếm 9,6% tổng dư nợ.

Giữ dòng tín dụng thông suốt, gỡ nút thắt tiếp cận vốn

Với vai trò, ý nghĩa đóng góp quan trọng của ngành lúa gạo với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong thời gian tới, ngành ngân hàng sẽ triển khai các giải pháp trọng tâm.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13, 14 và 15 tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn không để xảy ra tình trạng người dân, doanh nghiệp có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật mà không được tiếp cận hoặc chậm tiếp cận vốn vay do các điều kiện, thủ tục phiền hà.

Chủ động cân đối nguồn vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn vay cho sản xuất, chế biến, thu mua, tạm trữ, tiêu thụ lúa gạo trong năm 2025, đặc biệt là vụ Đông Xuân tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện các biện pháp khác để giảm lãi suất cho vay. Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi.

Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các ngân hàng mở rộng hạn mức tín dụng, thời hạn cho vay đối với các doanh nghiệp có năng lực, có hệ thống kho chứa để mua gạo tạm trữ trong giai đoạn thị trường có biến động và giá mua thấp, đáp ứng đủ nhu cầu tín dụng phục vụ thu mua và xuất khẩu lúa gạo, nhất là thu mua lúa hàng hóa vụ Đông Xuân tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; hỗ trợ nông dân tái vụ; đơn giản hóa thủ tục xét duyệt cấp tín dụng, bao gồm các điều kiện về hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng thu mua lúa, tài sản bảo đảm.

Đông Thịnh

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80