Ngân hàng đẩy mạnh phát hành trái phiếu trước áp lực từ chuẩn CAR mới

(TBTCO) - Theo FiinRatings, các ngân hàng đang gia tăng mạnh việc huy động vốn cấp 2 qua kênh phát hành trái phiếu. Quy mô phát hành dự kiến đạt mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Diễn biến này cho thấy áp lực ngày càng lớn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn theo Thông tư 14.
aa
Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn Basel III gõ cửa, ngân hàng Việt rẽ hướng chọn phương pháp IRB trong quản trị tài sản rủi ro

Thống kê từ Công ty cổ phần FiinRatings cho thấy, vốn cấp 1 (Tier-1) vẫn chiếm tỷ trọng chủ đạo trong cơ cấu vốn của hệ thống ngân hàng, song mức độ phụ thuộc vào vốn cấp 2 (Tier-2) đã gia tăng kể từ năm 2024, đặc biệt thông qua hoạt động phát hành trái phiếu của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh và các ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô trung bình.

Ngân hàng đẩy mạnh phát hành trái phiếu trước áp lực từ chuẩn CAR mới

Trái phiếu kỳ hạn từ 5 năm trở lên được tính vào vốn cấp 2, qua đó giúp các ngân hàng cải thiện tỷ lệ an toàn vốn CAR. Do đó, hoạt động phát hành trái phiếu có kỳ hạn từ năm năm trở lên tăng mạnh trong năm 2023 và duy trì ổn định cho đến nay.

Cũng theo FiinRatings, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của toàn ngành nhìn chung ổn định, song có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm ngân hàng. Nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh cải thiện tỷ lệ an toàn vốn từ khoảng 9,2% năm 2023 lên 10,7% trong 6 tháng đầu năm 2025, chủ yếu nhờ phát hành trái phiếu cấp hai.

Nhóm 4 ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu ghi nhận tỷ lệ an toàn vốn giảm nhẹ xuống khoảng 12,7% do tăng trưởng tài sản có rủi ro vượt tốc độ tăng của vốn tự có. Các ngân hàng thương mại cổ phần còn lại giảm nhẹ, duy trì quanh mức 11%, cho thấy áp lực tăng trưởng tương tự dù vẫn đẩy mạnh phát hành trái phiếu.

Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) đã quy định chi tiết về vốn lõi cấp 1 (CET1), vốn cấp 1 (Tier-1) và bộ đệm an toàn vốn (CCB). Qua đó, siết chặt hơn yêu cầu về nguồn vốn tự có và lợi nhuận giữ lại, khiến tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ không còn phản ánh đầy đủ năng lực vốn thực chất của các tổ chức tín dụng.

Theo Thông tư 14, từ năm 2030 trở đi, các ngân hàng thương mại sẽ phải duy trì CAR tối thiểu 10,5%, đã bao gồm bộ đệm bảo toàn vốn (CCB), ngoài ra có thể phải cộng thêm bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCyB) từ 0 - 2,5% tùy thời kỳ và thậm chí là cao hơn đối với các ngân hàng thương mại có tầm quan trọng trong hệ thống theo xem xét của Ngân hàng Nhà nước.

Để cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng tín dụng và yêu cầu đảm bảo an toàn vốn, FiinRatings dự báo nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ tập trung tăng vốn lõi cấp 1 thông qua việc giữ lại lợi nhuận và duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức vừa phải.

Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn sẽ kết hợp giữa giữ lại lợi nhuận và phát hành trái phiếu cấp 2 một cách linh hoạt nhằm hỗ trợ tăng trưởng có chọn lọc. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ hơn có thể lựa chọn phát hành thêm cổ phần mới hoặc giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng để duy trì mức độ an toàn vốn cần thiết.

"Chúng tôi dự báo hoạt động huy động vốn ở cả hai kênh (trái phiếu và cổ phiếu) sẽ còn sôi động hơn nữa trong các năm tới khi Thông tư 14 có hiệu lực, buộc các ngân hàng duy trì CAR ít nhất 10,5%" - chuyên gia FiinRatings đánh giá.

Trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ đứng trước áp lực lớn khi tỷ lệ CAR hiện tại mới chỉ xấp xỉ mức này. Trong khi đó, nhóm ngân hàng tư nhân sở hữu bộ đệm vốn dày hơn, nhưng xu hướng CAR tăng chậm trong các năm gần đây cũng cho thấy nhu cầu bổ sung vốn trung dài hạn luôn thường trực./.

Ngân hàng đẩy mạnh phát hành trái phiếu

Báo cáo từ Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành lũy kế từ đầu năm đạt 349.603 tỷ đồng. Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 73% tổng giá trị phát hành, tương ứng trên 255 nghìn tỷ đồng, còn các doanh nghiệp bất động sản chiếm khoảng 18%.

Đồng thời, các nhà băng dự kiến đẩy mạnh phát hành cuối năm nhằm đáp ứng việc mở rộng quy mô tín dụng trong năm nay trong bối cảnh bộ đệm vốn còn mỏng và hướng đến đáp ứng yêu cầu an toàn vốn mới hướng theo Basel III theo Thông tư 14./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30