Basel III gõ cửa, ngân hàng Việt rẽ hướng chọn phương pháp IRB trong quản trị tài sản rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu 10,5% từ năm 2034, đặt ra áp lực tăng vốn và siết chặt quản trị rủi ro. Trước yêu cầu mới, nhiều ngân hàng mạnh dạn áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ (IRB).
aa
Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ

Siết chặt chuẩn CAR, nhiều ngân hàng tiên phong triển khai sớm

Ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư, Công ty FIDT đánh giá, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) thay thế Thông tư 41/2016/TT-NHNN, với các quy định khắt khe hơn về CAR, tiến gần chuẩn mực Basel III.

Theo quy định mới, đến khoảng năm 2034, mọi ngân hàng đều phải đảm bảo CAR không dưới 10,5%, gồm 8% vốn cấp 1 và 2,5% bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) bắt buộc. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng thêm bộ đệm chu kỳ (CCyB) dao động 0 - 2,5% tùy điều kiện kinh tế từng giai đoạn. Hiện CAR của nhiều ngân hàng chỉ quanh mức 8 - 9%, nên áp lực tăng vốn để đáp ứng chuẩn mới là không nhỏ.

Basel III gõ cửa, ngân hàng Việt rẽ hướng chọn phương pháp IRB trong quản trị tài sản rủi ro

Trước yêu cầu mới, nhiều ngân hàng đã chủ động đăng ký nâng chuẩn sớm khi Thông tư 14 mới có hiệu lực cách đây 2 ngày, từ ngày 15/9. Vietcombank là một trong những đơn vị tiên phong, lựa chọn cả phương pháp tiêu chuẩn (SA) và phương pháp xếp hạng nội bộ (IRB). Quy định mới cho phép các ngân hàng tự ước lượng tham số rủi ro, từ đó đo lường sát thực hơn đặc thù rủi ro của từng tổ chức.

Việc chuẩn hóa dữ liệu và phản ánh sát thực hơn mức độ rủi ro của khách hàng giúp các ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro và đưa ra quyết định kinh doanh chính xác, phù hợp hơn.

"Việc áp dụng Thông tư 14 cũng đặt ra thách thức không nhỏ cho các ngân hàng, đặc biệt là áp lực tăng vốn, cập nhật dữ liệu, chi phí đầu tư lớn và việc nâng cao năng lực quản trị danh mục tín dụng để đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ CAR chặt chẽ hơn" - đại diện Vietcombank nhìn nhận.

"Nếu Thông tư 41/2016/TT-NHNN đã đặt nền móng cho việc áp dụng Basel II tại Việt Nam, thì Thông tư 14 chính là bước đi mang tính hệ thống để các ngân hàng tiến tới áp dụng Basel III, qua đó, nâng cao chuẩn mực quản trị rủi ro và khẳng định vị thế trên thị trường khu vực và quốc tế" - đại diện Vietcombank đánh giá.

Vietcombank đã hình thành nền tảng dữ liệu, quy trình vận hành và năng lực chuyên môn đủ mạnh, tạo điều kiện để triển khai hiệu quả các phương pháp quản trị rủi ro hiện đại theo chuẩn mực Basel.

Trước đó, Vietcombank cũng là ngân hàng đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận áp dụng sớm Basel II theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN, sớm hơn 1 năm so với thời hạn.

Cùng với Vietcombank, VPBank cũng chính thức đăng ký áp dụng IRB, nằm trong số ít các ngân hàng đầu tiên đăng ký áp dụng khi Thông tư 14 bắt đầu có hiệu lực. Đại diện VPBank cho biết, ngân hàng đã hoàn thành việc xây dựng khung quản trị, giám sát, bao gồm các quy định, quy trình và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu của các doanh nghiệp, cá nhân có quan hệ tín dụng trong tối thiểu 5 - 7 năm để phục vụ việc ước tính tham số rủi ro.

Ngân hàng cũng nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin trên nền tảng điện toán đám mây, đáp ứng những yêu cầu khắt khe trong triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo Thông tư 14.

KienlongBank cũng cho thấy sự chủ động khi đăng ký áp dụng Basel III ngay từ đầu. Với tỷ lệ CAR "vượt chuẩn" 3 - 4% trong nhiều năm, cùng kế hoạch tăng vốn điều lệ và niêm yết trên HoSE, ngân hàng coi việc áp dụng sớm là bước đi nâng cao minh bạch, uy tín và hấp dẫn nhà đầu tư.

Theo lãnh đạo KienlongBank, tự động hóa công tác tính vốn giúp ngân hàng rút ngắn thời gian tổng hợp dữ liệu, loại bỏ rủi ro sai sót thủ công và tăng tính chủ động trong việc giám sát CAR. Đồng thời, đây cũng là công cụ hỗ trợ ra quyết định chiến lược cho ban lãnh đạo, giúp tối ưu hóa danh mục tài sản có rủi ro, bảo đảm ngân hàng luôn duy trì trạng thái an toàn.

Ngân hàng phải chứng minh năng lực khi áp dụng IRB

Thông tư 14 mở ra một ngã rẽ quan trọng trong cách thức xác định tài sản rủi ro của ngân hàng, đó là tiếp tục sử dụng phương pháp SA hay IRB, hoặc kết hợp cả hai.

Basel III gõ cửa, ngân hàng Việt rẽ hướng chọn phương pháp IRB trong quản trị tài sản rủi ro
Nhiều ngân hàng Việt chọn phương pháp IRB trong quản trị tài sản rủi ro. Ảnh minh hoạ.

Với SA, rủi ro của các khoản vay được gán hệ số cố định, dẫn đến việc nhiều khoản vay chất lượng tốt vẫn bị tính rủi ro cao, buộc ngân hàng phải giữ vốn nhiều hơn cần thiết.

Còn IRB khắc phục nhược điểm này, cho phép ngân hàng tự tính toán dựa trên dữ liệu lịch sử, từ xác suất vỡ nợ (PD), đến mức tổn thất khi vỡ nợ (LGD) và giá trị khoản vay có thể bị mất mát (EAD). Nhờ đó, một khách hàng có uy tín và tài sản đảm bảo tốt có thể chỉ cần hệ số rủi ro 50 - 70% thay vì 100% theo SA, giúp ngân hàng tối ưu vốn và hỗ trợ tín dụng nhiều hơn cho nền kinh tế.

Để triển khai phương pháp IRB, theo đại diện VPBank, các ngân hàng tự xây dựng mô hình ước lượng rủi ro để ước tính các tham số rủi ro trọng yếu, do đó, đặt ra yêu cầu khắt khe về hệ thống cơ sở dữ liệu lớn, hạ tầng công nghệ thông tin tiên tiến và nguồn nhân lực chất lượng cao của các ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của Thông tư.

Thực tế cho thấy, để triển khai IRB, Basel III và Thông tư 14 yêu cầu rất khắt khe, đó là ngân hàng phải có ít nhất 5 năm dữ liệu về vỡ nợ, 7 năm dữ liệu thu hồi, hệ thống xếp hạng nội bộ được kiểm định độc lập hằng năm và mô hình dự báo rủi ro không được sai lệch quá ngưỡng cho phép.

Bằng việc thiết lập khung quản lý vốn chặt chẽ gồm CAR và các bộ đệm bổ sung, Thông tư 14 buộc các ngân hàng phải tăng cường vốn tự có và cải thiện quản trị rủi ro. Khi đó, Ngân hàng Nhà nước có thể điều hành tín dụng dựa trên sức khỏe vốn của từng tổ chức, thay vì áp trần hành chính. Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng đã xác nhận kế hoạch xóa bỏ cơ chế “room” tín dụng từ năm 2026, lấy CAR làm chỉ số định hướng./.

Theo Khoản 2 Điều 35 về tỷ lệ sàn đầu ra tại Thông tư 14, tổng tài sản rủi ro (RWA) tính theo IRB không được thấp hơn 72,5% khi tính theo SA. Cơ chế này đảm bảo ngân hàng lớn không tận dụng mô hình IRB để giảm vốn quá mức, tạo chênh lệch với các ngân hàng nhỏ vẫn dùng SA./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 14,600
Kim TT/AVPL 14,300 14,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,600
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 14,620
Miếng SJC Nghệ An 14,250 14,620
Miếng SJC Thái Bình 14,250 14,620
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 14,550
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,740 14,440
Trang sức 99.99 13,750 14,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 14,622
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 14,623
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 1,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 143,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,611
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 98,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 88,365
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 8,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 60,454
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cập nhật: 26/06/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80