Điều hành chính sách tiền tệ giữa "vòng xoáy” thách thức từ thị trường bất động sản, sự cố SCB

Tham luận tại Đại hội Đảng bộ Chính phủ nhiệm kỳ 2025 - 2030, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, công tác điều hành chính sách tiền tệ nhiệm kỳ qua đối mặt nhiều thách thức. Trong nước, thị trường bất động sản khó khăn, thiên tai, bão lũ, sự cố rút tiền hàng loạt tại SCB...; trong khi đó, nhiều quốc gia thắt chặt tiền tệ, giá vàng và USD biến động phức tạp.
aa
Dự kiến tín dụng tăng tới 20%, Ngân hàng Nhà nước lưu ý kiểm soát chất lượng nợ vay Chính sách tài khóa vững vàng "chèo lái" tăng trưởng khi tiền tệ dần cạn dư địa Đại biểu Phạm Văn Hòa: Vụ SCB có thể chỉ là "bề nổi của một tảng băng bị vỡ"

Chiều ngày 13/10, tham luận phiên chính thức Đại hội Đảng bộ Chính phủ nhiệm kỳ 2025 - 2030, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, ngay từ đầu nhiệm kỳ, đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng tới mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, gây đứt gãy chuỗi cung ứng, lạm phát tăng cao khiến ngân hàng Trung ương các nước thắt chặt chính sách tiền tệ nhanh và mạnh. Giá vàng, giá USD biến động phức tạp.

Nhiều thách thức trong điều hành chính sách tiền tệ

Trước bối cảnh khó khăn và thách thức đó, trước sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành trung ương và địa phương, sự đồng hành của doanh nghiệp và người dân, Ban Thường vụ Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước đã có sự chỉ đạo, lãnh đạo toàn diện mọi mặt hoạt động của ngành và đã đạt được những kết quả tích cực trong điều hành chính sách tiền tệ.

Điều hành chính sách tiền tệ giữa

Thống đốc Nguyễn Thị Hồng trình bày tham luận tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

"Trong nước, khó khăn của thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, thiên tai, bão lũ, sự cố rút tiền hàng loạt tại ngân hàng SCB... đặt ra nhiều thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ. Đặc biệt, khi nền kinh tế của ta có độ mở cửa lớn, yêu cầu phải thực hiện cùng một lúc nhiều mục tiêu: kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cao trên 8%, giảm mặt bằng lãi suất, ổn định tỷ giá, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng" - Thống đốc đánh giá.

Cụ thể, việc điều tiết tiền tệ, tín dụng hợp lý đã góp phần kiểm soát lạm phát ở mức thấp, bảo đảm cung ứng vốn, bình quân khoảng 15%/năm để hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế cao sau đại dịch.

"Trước sự cố rút tiền hàng loạt tại ngân hàng SCB, với sự bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, Ban Thường vụ Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước đã tham mưu, đề xuất với cấp có thẩm quyền, đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp để ngăn ngừa rủi ro lan truyền, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tiền tệ, bảo đảm an toàn hệ thống" - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Trong bối cảnh lãi suất quốc tế tăng cao, nhưng Ngân hàng Nhà nước vẫn cố gắng duy trì các mức lãi suất điều hành trong một thời gian dài, tăng vào thời điểm cần thiết để ổn định tỷ giá, sau đó, giảm và giữ ổn định.

Đến nay, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm khoảng 2%/năm so với cuối năm 2022 khi nền kinh tế bắt đầu hồi phục, phản ánh những cố gắng và quyết tâm cao của ngành ngân hàng trong việc giảm lãi suất bất chấp áp lực lớn của lãi suất quốc tế tăng cao.

Tỷ giá và thị trường ngoại hối cơ bản ổn định nhờ sự kết hợp đồng bộ với các công cụ, giải pháp điều tiết tiền tệ. Thị trường ngoại hối thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, đặc biệt là nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước khi nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng cao, đặc biệt là vào năm cuối nhiệm kỳ.

Cùng với đó, khi doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn, với trách nhiệm và tinh thần chia sẻ, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, hệ thống ngân hàng đã triển khai hàng loạt các giải pháp chính sách về tín dụng, lãi suất để hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, tham gia vào chương trình phục hồi kinh tế, miễn giảm lãi, giảm phí cho doanh nghiệp và người dân với tổng số giá trị lên tới khoảng 70.000 tỷ đồng.

Giảm áp lực tăng trưởng tín dụng, giảm rủi ro cho hệ thống

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng, cùng với những thách thức hiện nay đối với ổn định kinh tế vĩ mô như đã nêu tại dự thảo báo cáo chính trị, trong nhiệm kỳ tới, dự báo tình hình kinh tế tiền tệ vẫn còn có nhiều yếu tố bất định.

Điều hành chính sách tiền tệ giữa

Điều hành chính sách tiền tệ sẽ chịu nhiều áp lực

"Với mục tiêu bước vào giai đoạn tăng tốc, bứt phá, phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế cao ở mức 2 con số nhưng vẫn phải bảo đảm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, việc điều hành chính sách tiền tệ sẽ chịu nhiều áp lực, nhất là khi việc đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính chưa thể giúp tăng nhanh năng suất lao động ngay từ đầu nhiệm kỳ" - Thống đốc Nguyễn Thị Hồng nhận định.

Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tin tưởng với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, sẵn sàng chủ động tâm thế trong việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, theo dõi sát diễn biến tình hình, nâng cao chất lượng phân tích dự báo.

Đồng thời, chủ động ứng phó bằng cả các công cụ, giải pháp với liều lượng và thời điểm hợp lý nhằm góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Để bảo đảm ổn định vĩ mô là xuyên suốt, là cơ sở cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong những năm tới, Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước nhận thấy một số điểm cần lưu ý để bảo đảm tăng trưởng cao đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong đó, cần giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các nút thắt trong đầu tư, kinh doanh một cách thực chất, hiệu quả để rút ngắn thời gian triển khai các dự án, để vòng quay vốn nhanh hơn và giảm áp lực tăng trưởng tín dụng ở mức cao, giảm rủi ro tiềm ẩn đối với hệ thống ngân hàng.

Khi triển khai các dự án kinh tế lớn, trọng điểm cần đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư, có trọng tâm trọng điểm, tính toán và phân kỳ đầu tư phù hợp để tránh gây rủi ro đối với ổn định kinh tế vĩ mô./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới tại Trụ sở chính TP. Hồ Chí Minh và khai trương Văn phòng Chi nhánh Hà Nội mới tại tòa nhà BRG Diamond Park Plaza.
Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Dư nợ cho vay BIDV tăng gần 8% sau 9 tháng, tổng tài sản tiến sát 3,5 triệu tỷ đồng

Dư nợ cho vay BIDV tăng gần 8% sau 9 tháng, tổng tài sản tiến sát 3,5 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, BIDV lãi trước thuế 29.483,5 tỷ đồng, tăng 24,8% cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi thuần và đẩy mạnh thu hồi nợ đã xử lý rủi ro. Trong bối cảnh tổng tài sản đạt 3,49 triệu tỷ đồng; dư nợ cho vay đạt 2,56 triệu tỷ đồng, tăng gần 8%, ngân hàng tiếp tục chú trọng kiểm soát chất lượng tài sản.
Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
Trang sức 99.9 13,180 ▲100K 13,780 ▲100K
Trang sức 99.99 13,190 ▲100K 13,790 ▲100K
Vàng 99.9 12,650 ▲100K
Vàng 99.99 12,800 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 ▲1K 14,002 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 ▲1K 14,003 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,328 ▲10K 1,368 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,328 ▲10K 1,369 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,308 ▲10K 1,358 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 127,455 ▲990K 134,455 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,221 ▲75K 10,201 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,703 ▲680K 92,503 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,196 ▲610K 82,996 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 69,529 ▲583K 79,329 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,984 ▲417K 56,784 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cập nhật: 02/11/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17528 17801 18387
CAD 17901 18176 18793
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3834 3930
EUR 28247 28463 29543
GBP 33741 34130 35065
HKD 0 3154 3357
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14176 14766
SGD 19608 19889 20459
THB 679 742 795
USD (1,2) 25514 0 0
USD (5,10,20) 25552 0 0
USD (50,100) 25579 25593 25963
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,605 25,605 25,985
USD(1-2-5) 24,581 - -
USD(10-20) 24,581 - -
EUR 28,276 28,299 29,643
JPY 158.92 159.21 168.85
GBP 33,933 34,025 35,220
AUD 17,760 17,824 18,499
CAD 18,098 18,156 18,829
CHF 30,935 31,031 31,945
SGD 19,747 19,808 20,593
CNY - 3,805 3,952
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.69 18.45 20.08
THB 727.78 736.77 788.72
NZD 14,164 14,296 14,719
SEK - 2,586 2,678
DKK - 3,793 3,927
NOK - 2,751 2,849
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,920.63 - 6,686.79
TWD 713.93 - 865.04
SAR - 6,754.63 7,116.3
KWD - 81,450 86,680
AED - 6,768 7,294
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,221 28,363 29,591
GBP 33,895 34,065 35,100
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,727 30,881 31,829
JPY 158.68 160.28 168.26
AUD 17,756 17,881 18,479
SGD 19,728 19,907 20,504
THB 732 747 784
CAD 18,082 18,209 18,807
NZD 14,263 14,818
KRW 18.60 20.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25560 25590 25960
AUD 17749 17849 18774
CAD 18104 18204 19217
CHF 31010 31040 32618
CNY 3817.5 3842.5 3977.5
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28470 28500 30222
GBP 34095 34145 35903
HKD 0 3300 0
JPY 159.69 160.19 170.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14322 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19776 19906 20637
THB 0 708.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12000000 12000000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,500 25,620 25,920
USD20 25,470 25,620 25,920
USD1 25,450 25,620 25,920
AUD 17,715 17,865 18,697
EUR 28,152 28,252 29,924
CAD 18,054 18,154 19,466
SGD 19,866 20,016 20,900
JPY 160.41 161.91 167.53
GBP 33,928 34,078 35,461
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30