Sacombank bất ngờ chuyển địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm tài chính 2025 về Phú Thọ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm tài chính 2025 của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) sẽ diễn ra năm 2026 tại Khách sạn Sài Gòn – Phú Thọ, số 17A Trần Phú, Phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
aa
Sacombank bất ngờ chuyển địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm tài chính 2025 về Phú Thọ

Bước sang năm 2026, Sacombank khẳng định tiếp tục theo đuổi chiến lược tăng trưởng an toàn, hiệu quả, minh bạch, bền vững và thận trọng, tập trung tái cấu trúc tài sản và nguồn vốn, phát triển các mảng kinh doanh lõi, tối ưu vận hành và quản trị chi phí hiệu quả. Ảnh tư liệu

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (SACOMBANK) công bố thông tin về việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm tài chính 2025 theo Nghị quyết của Hội đồng quản trị.

Theo đó, ngày chốt danh sách cổ đông để thực hiện quyền tham dự ĐHĐCĐ thường niên năm tài chính 2025 là ngày thứ 2 (16/3/2026). Đại hội sẽ diễn ra theo hình thức họp trực tiếp vào 8h30 ngày 22/4/2026 (thứ 4) tại Khách sạn Sài Gòn – Phú Thọ, số 17A Trần Phú, Phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại hội lần này thu hút sự chú ý đặc biệt khi SACOMBANK đang ở giai đoạn “nước rút” thực hiện Đề án tái cơ cấu. Đồng thời, đánh dấu giai đoạn chuyển mình khi Ngân hàng vừa có sự xuất hiện của nhân tố lãnh đạo mới cùng hàng loạt thay đổi về nhận diện thương hiệu và chiến lược kinh doanh.

Phía Sacombank cho biết, việc lựa chọn địa điểm tổ chức tại Phú Thọ, thay vì các địa điểm quen thuộc trước đây, thể hiện sự bứt phá về tư duy và quyết tâm thay đổi mạnh mẽ, toàn diện về quan điểm quản trị, hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững và thận trọng, đảm bảo lợi ích tối đa cho khách hàng, đối tác và cổ đông.

Ngoài ra, địa điểm Phú Thọ còn mang ý nghĩa văn hóa khi cận kề Giỗ Tổ Hùng Vương, góp phần tạo nên chiều sâu ý nghĩa cho sự kiện, thể hiện sự trân trọng các giá trị truyền thống và tinh thần hướng về cội nguồn.

Theo thông tin công bố trước đó, tại đại hội lần này, Sacombank dự kiến bầu 4 thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), trong đó một thành viên độc lập, cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ 2022 - 2026.

Số liệu gần nhất cho thấy, vào giữa tháng 12/2025, khi quỹ đầu tư PYN Elite Fund (Phần Lan) bán bớt cổ phiếu để giảm tỷ lệ sở hữu xuống 4,86% thì Sacombank không có cổ đông sở hữu trên 5%. Người xếp thứ 2 là ông Dương Công Minh – Chủ tịch HĐQT STB khi sở hữu 3,32% vốn.

Hiện nay, Sacombank có 7 thành viên HĐQT, trong đó, ông Dương Công Minh giữ chức Chủ tịch. Trong 6 thành viên còn lại, bà Nguyễn Đức Thạch Diễm có đơn từ nhiệm từ giữa năm ngoái. Do Sacombank chưa tổ chức đại hội đồng cổ đông để thông qua việc miễn nhiệm, bà Diễm vẫn là thành viên HĐQT.

Sacombank đang trải qua đợt biến động mạnh nhân sự thượng tầng. Mốc thời gian bắt đầu từ ngày 23/12/2025, Ngân hàng này thông báo bổ nhiệm ông Nguyễn Đức Thụy làm Quyền Tổng giám đốc ngay sau khi ông thôi chức Chủ tịch LPBank. Phó Tổng giám đốc LPBank Nguyễn Thị Kiều Anh cũng sang Sacombank giữ chức vụ tương tự.

Sau đó, Sacombank đổi nhận diện thương hiệu. Đồng thời, ngân hàng đồng thời bổ nhiệm Phó Tổng giám đốc Hà Văn Trung giữ chức Phó Tổng giám đốc thường trực, còn ông Vũ Minh Quân từ vị trí Giám đốc Trung tâm xử lý nợ kiêm Trợ lý Chủ tịch HĐQT lên chức Phó Tổng giám đốc.

Về hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước thuế hợp nhất cả năm 2025 của Sacombank đạt 7.628 tỷ đồng, tương đương 52% kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông thông qua./.

Về quy mô hoạt động, đến cuối năm 2025, tổng tài sản của Sacombank đạt gần 918.000 tỷ đồng, tăng 23% so với đầu năm. Tổng huy động vốn đạt hơn 837.000 tỷ đồng (+24%), trong khi dư nợ tín dụng đạt hơn 626.000 tỷ đồng (+16%).
Kỳ Phương

Đọc thêm

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

(TBTCO) - Chiều 20/10/2026, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác tài chính trị giá 50 triệu USD với DEG – Định chế tài chính đầu tư phát triển trực thuộc Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Thỏa thuận không chỉ bổ sung nguồn vốn USD trung dài hạn, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn quốc tế cho TPBank, mà còn mở rộng dòng tín dụng xanh và nâng tầm hệ thống quản trị rủi ro Môi trường – Xã hội theo chuẩn mực toàn cầu.
LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 14,230
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,510 14,110
Trang sức 99.99 13,520 14,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17655 17928 18507
CAD 17885 18159 18778
CHF 30710 31086 31724
CNY 0 3830 3927
EUR 28413 28629 29720
GBP 33830 34219 35152
HKD 0 3164 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14411 14996
SGD 19702 19984 20553
THB 685 748 801
USD (1,2) 25595 0 0
USD (5,10,20) 25634 0 0
USD (50,100) 25661 25675 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Cập nhật: 22/10/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30