Dự báo USD phục hồi vì xung đột Trung Đông nhưng khó bền, giúp nâng đỡ giá vàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá vàng tăng thêm 5% trong tháng 2, nâng mức tăng từ đầu năm lên khoảng 20%, nhưng đang chịu áp lực điều chỉnh khi đồng USD phục hồi do căng thẳng Trung Đông. Tuy nhiên, theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), sự phục hồi của đồng USD được thúc đẩy bởi xung đột có thể chỉ diễn ra ngắn, hỗ trợ cho giá vàng.
aa
Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá Nhu cầu trú ẩn dâng cao giữa xung đột Trung Đông, nâng triển vọng giá vàng Giá vàng hôm nay ngày 6/3: Giá vàng quay đầu tăng trở lại

Vàng vẫn đối mặt một số rủi ro dù hưởng lợi từ bất ổn

Đánh giá về diễn biến thị trường vàng tháng 2/2026 trong thông tin phát đi ngày 3/6, chuyên gia Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho biết, giá vàng tăng thêm 5% trong tháng 2, lên mức 5.222 USD/ounce, qua đó, nâng mức tăng từ đầu năm đến nay lên khoảng 20%. Tuy nhiên, diễn biến giá vàng tính theo các đồng tiền khác lại khá trái chiều.

Đồng Rupee của Ấn Độ tăng mạnh sau khi Mỹ nới lỏng các biện pháp thuế quan, khiến giá vàng trong nước giảm 3,5%. Tương tự, đồng Nhân dân tệ tăng giá cũng khiến giá vàng tính theo nội tệ tại Trung Quốc đi xuống.

Dự báo USD phục hồi vì xung đột Trung Đông nhưng khó bền, giúp nâng đỡ giá vàng
Nguồn: Mô hình phân bổ lợi nhuận vàng của Hội đồng Vàng Thế giới.

Đáng chú ý, mô hình phân bổ lợi nhuận vàng (GRAM) của WGC cho thấy, mức tăng của giá vàng chủ yếu đến từ sự suy yếu của đồng USD, đặc biệt so với các đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi. Bên cạnh đó, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm cũng góp phần hỗ trợ đà tăng của giá vàng.

Sau đợt tăng mạnh trong tháng 1, độ biến động kỳ vọng giảm mạnh có thể đã gây áp lực khiến giá vàng giảm sâu hơn trong nửa đầu tháng 2.

Dù vậy, giá vàng nhiều khả năng được nâng đỡ bởi lực mua mạnh từ châu Á, thể hiện qua diễn biến giá vàng trong các phiên giao dịch tại châu Á, cũng như khối lượng giao dịch cao trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải.

Cũng theo WGC, các quỹ ETF vàng thu hút thêm 5,3 tỷ USD trong tháng 2 (tương đương 26 tấn), dẫn đầu bởi Bắc Mỹ và châu Á. Trái lại, các quỹ tại châu Âu lại ghi nhận dòng vốn rút ròng 1,8 tỷ USD (tương đương 13 tấn).

Vàng tăng giá khi khi địa chính trị nóng lên, nhưng diễn biến sau khó đoán

Theo chuyên gia từ Hội đồng Vàng Thế giới, trong lịch sử, vàng tăng giá trong khoảng hai phần ba số trường hợp khi căng thẳng địa chính trị gia tăng mạnh. Tuy nhiên, diễn biến trong hai tuần tiếp theo thường khó dự đoán hơn, với biên độ lợi suất của vàng dao động rộng hơn (từ +8% đến -3%) và tỷ lệ tăng giá giảm xuống còn khoảng 57%.

Chuyên gia WGC cũng chỉ rõ vàng cũng đối mặt với một số rủi ro.

Theo đó, mức giá cao của vàng có thể tiếp tục khiến một số nhà đầu tư thận trọng. Nếu dòng vốn tài chính góp phần thúc đẩy tăng trưởng mạnh hơn tại châu Âu, Nhật Bản và các khu vực khác, vàng tại các thị trường này có thể trở nên kém hấp dẫn hơn, trong bối cảnh thị trường cổ phiếu trong nước tăng trưởng tích cực.

"Một số quỹ ETF vàng tại châu Âu đã ghi nhận dòng vốn rút ra trong tháng 2, khi đợt tăng giá mạnh của vàng trong tháng 1 đã thúc đẩy nhà đầu tư chốt lời" - WGC cho biết.

Cùng với đó, cuộc xung đột Trung Đông bùng phát vào cuối tháng 2/2026 đã khiến giá các loại tài sản phản ứng ngay lập tức trong phiên giao dịch ngày 2/3, đây là điều không gây nhiều bất ngờ. Giá dầu tăng, đồng USD mạnh lên, trong khi lợi suất trái phiếu giảm nhẹ. Giá vàng cũng bật tăng, tăng gần 5% chỉ trong hai phiên giao dịch. Tuy nhiên, diễn biến trong hai tuần tiếp theo thường khó dự đoán hơn.

Cũng theo ông Thorsten Polleit - Giáo sư Kinh tế danh dự tại Đại học Bayreuth (Đức), hành động quân sự chung của Mỹ và Israel nhằm vào Iran đang gây ra áp lực đáng kể đối với nền kinh tế toàn cầu. Trong các giai đoạn thị trường căng thẳng, nhà đầu tư thường đổ vào những tài sản có tính thanh khoản cao nhất, mang lại lợi thế cho đồng USD hơn là các kim loại quý.

Tuy nhiên, ông Polleit nhấn mạnh, điều này không nên bị hiểu nhầm là nhu cầu dài hạn đối với kim loại quý đang suy yếu, bởi nhu cầu đầu tư mang tính cấu trúc đối với vàng và bạc vẫn tiếp tục gia tăng, khi nhà đầu tư tìm kiếm sự bảo vệ trước mức nợ chính phủ ngày càng cao và rủi ro lạm phát kéo dài.

Dự báo USD phục hồi vì xung đột Trung Đông nhưng khó bền, giúp nâng đỡ giá vàng
Diễn biến giá vàng trong nước. Ảnh tư liệu.

Ở trong nước, hiện phiên giao dịch sáng ngày 6/3, giá vàng giao ngay đang giao dịch ở 5.130 USD/ounce, tăng 50 USD/ounce. Giá vàng trong nước sáng 6/3 cũng điều chỉnh giảm, sau nhịp tăng mạnh trước đó.

Theo đó, vàng SJC được các doanh nghiệp niêm yết quanh 180,8 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 183,8 triệu đồng/lượng chiều bán ra, giảm khoảng 900.000 đồng/lượng so với phiên trước. Các thương hiệu lớn như DOJI, PNJ hay Bảo Tín Minh Châu... cũng điều chỉnh tương tự. Giá vàng thế giới quy đổi hiện ở 163 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá bán trong nước khoảng 20 triệu đồng/lượng.

Dự báo 5 yếu tố gây áp lực khiến đồng USD suy yếu

Chỉ số DXY - chỉ số đo lường sức mạnh của đồng USD so với 6 loại tiền tệ khác - đã tránh được nguy cơ giảm sâu trong tháng 1, nhờ những bất ngờ khả quan từ dữ liệu kinh tế và diễn biến tích cực trên thị trường hợp đồng tương lai. Tuy nhiên, WGC cho rằng đây chỉ là khoảng nghỉ tạm thời.

Dự báo USD phục hồi vì xung đột Trung Đông nhưng khó bền, giúp nâng đỡ giá vàng
Dự báo USD phục hồi vì xung đột Trung Đông nhưng khó bền, giúp nâng đỡ giá vàng. Ảnh minh họa.

Đồng USD suy yếu, sự bất định gia tăng về chính sách và địa chính trị, cùng với dòng vốn biến động mạnh hơn là những yếu tố có lợi cho vàng. Bên cạnh đó, việc các ngân hàng trung ương tiếp tục đa dạng hóa dự trữ sang vàng cũng tạo thêm lực hỗ trợ cho kim loại quý này.

"Sự phục hồi của đồng USD được thúc đẩy bởi cuộc xung đột hiện tại có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và xu hướng đồng USD tiếp tục giảm sẽ có lợi cho giá vàng" - chuyên gia WGC nhìn nhận.

Trong trung hạn, chuyên gia WGC dự báo đồng USD được dự báo có khả năng suy yếu dựa trên 5 yếu tố.

Một là, so với các giai đoạn trong quá khứ và so với các quốc gia khác, đồng USD và thị trường cổ phiếu Mỹ vẫn đang ở mức định giá cao.

Hai là, lợi thế “kép” dành cho nhà đầu tư nước ngoài (cổ phiếu Mỹ tăng mạnh và đồng USD mạnh) đang dần suy giảm, trong bối cảnh châu Âu và Nhật Bản ngày càng trở thành những thị trường đầu tư thay thế đáng chú ý.

Ba là, trong các giai đoạn sụt giảm của đồng USD trước đây, thị trường cổ phiếu Mỹ cũng thường diễn biến kém hơn so với các thị trường khác. Đồng thời, đồng USD thường giảm khá mạnh ở giai đoạn đầu, một phần do dòng vốn của nhà đầu tư rút khỏi thị trường Mỹ, qua đó, càng tạo thêm áp lực khiến USD tiếp tục giảm.

Bốn là, đồng USD yếu cũng phù hợp hơn với định hướng chính sách của chính quyền Mỹ hiện nay, vốn khuyến khích các doanh nghiệp đưa hoạt động sản xuất trở lại trong nước.

Năm là, việc đồng USD được sử dụng như một công cụ trong các biện pháp trừng phạt sau khi xung đột Ukraine bùng nổ đã khiến các ngân hàng trung ương và nhiều nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn với việc nắm giữ tài sản liên quan đến Mỹ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

(TBTCO) - Tại họp báo chiều ngày 14/4, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối Đào Xuân Tuấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng; đồng thời, đang phối hợp các bộ, ngành xem xét các đơn vị có đủ điều kiện.
Giá vàng hôm nay ngày 13/4: Giá vàng duy trì mặt bằng giá 169,4 - 172,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 13/4: Giá vàng duy trì mặt bằng giá 169,4 - 172,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 13/4 không ghi nhận biến động đáng kể tại các thương hiệu lớn, duy trì ở mức 169,4 - 172,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/4:  Giá vàng quay đầu giảm sau nhịp tăng trước đó

Giá vàng hôm nay ngày 12/4: Giá vàng quay đầu giảm sau nhịp tăng trước đó

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 12/4 quay đầu giảm nhẹ, phổ biến ở vùng 169,4 - 172,4 triệu đồng/lượng đối với vàng miếng và khoảng 169,1 - 172,4 triệu đồng/lượng với vàng nhẫn.
Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 11/4 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến trên 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 169,7 - 172,7 triệu đồng/lượng.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành. Đồng thời, chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Thuế Thành phố Hà Nội khi phát hiện công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Giá vàng hôm nay ngày 10/4: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 3,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 10/4: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 3,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 10/4 đồng loạt giảm mạnh tại các doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến tới 3,5 triệu đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi về quanh 168 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 9/4: Giá vàng trong nước tăng đến 2,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/4: Giá vàng trong nước tăng đến 2,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 9/4 đồng loạt tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với biên độ phổ biến từ 1,5 - 2,7 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 171 - 175 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Kim TT/AVPL 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼30K 15,700 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼30K 15,650 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 ▼80K 16,760 ▼80K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 ▼80K 16,710 ▼80K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 ▼80K 16,690 ▼80K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Hà Nội - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đà Nẵng - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Miền Tây - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Tây Nguyên - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,260 ▼230K 16,960 ▼230K
Trang sức 99.99 16,270 ▼230K 16,970 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,677 ▲1507K 17,122 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,677 ▲1507K 17,123 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,672 ▼25K 1,707 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,672 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,652 ▼25K 1,692 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,025 ▲159390K 167,525 ▲167355K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,163 ▼1875K 127,063 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,318 ▼1700K 115,218 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,472 ▼1525K 103,372 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,903 ▼1458K 98,803 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,813 ▼1043K 70,713 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cập nhật: 16/04/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18341 18616 19191
CAD 18642 18920 19536
CHF 32939 33324 33963
CNY 0 3800 3870
EUR 30381 30655 31680
GBP 34839 35232 36162
HKD 0 3233 3435
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15201 15783
SGD 20156 20439 20966
THB 738 801 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,621 30,646 31,925
JPY 161.7 161.99 170.77
GBP 35,192 35,287 36,293
AUD 18,622 18,689 19,284
CAD 18,883 18,944 19,528
CHF 33,384 33,488 34,273
SGD 20,350 20,413 21,100
CNY - 3,798 3,921
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.52 17.23 18.63
THB 787.87 797.6 849.56
NZD 15,260 15,402 15,766
SEK - 2,835 2,919
DKK - 4,097 4,218
NOK - 2,766 2,847
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,239.76 - 7,001.87
TWD 755.7 - 910.2
SAR - 6,916.81 7,244
KWD - 83,892 88,745
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,517 30,640 31,826
GBP 35,109 35,250 36,261
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,120 33,253 34,197
JPY 162.01 162.66 170
AUD 18,536 18,610 19,205
SGD 20,371 20,453 21,039
THB 803 806 842
CAD 18,830 18,906 19,479
NZD 15,318 15,852
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26357
AUD 18527 18627 19550
CAD 18827 18927 19941
CHF 33204 33234 34812
CNY 3800.7 3825.7 3961
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30566 30596 32322
GBP 35148 35198 36956
HKD 0 3355 0
JPY 162.04 162.54 173.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20323 20453 21175
THB 0 767.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16720000 16720000 17120000
SBJ 15000000 15000000 17120000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,150 26,205 26,357
AUD 18,578 18,678 19,794
EUR 30,777 30,777 32,202
CAD 18,772 18,872 20,188
SGD 20,422 20,572 21,780
JPY 162.85 164.35 168.99
GBP 35,128 35,478 36,560
XAU 17,048,000 0 17,402,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 805 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/04/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80