Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần khoản vay nhỏ gấp 4 lần, gỡ hạn mức cho vay trực tuyến

Ánh Tuyết
Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần khoản cho vay có mức giá trị nhỏ từ 100 triệu đồng lên tối đa 400 triệu đồng, tương ứng gấp 4 lần; riêng Quỹ tín dụng nhân dân nâng lên tối đa 200 triệu đồng. Đồng thời, đề xuất bãi bỏ giới hạn 100 triệu đồng đối với cho vay trực tuyến, nhằm phù hợp nhu cầu vốn thực tế và xu hướng phát triển fintech.
aa
Cho phép cho vay "đảo nợ", nhưng siết thời hạn để tránh che giấu nợ xấu Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%
Cho vay trực tuyến vẫn "vắng bóng" nhiều tổ chức tín dụng

Đề xuất nâng trần khoản vay nhỏ gấp 4 lần, tối đa 400 triệu đồng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến cá nhân, tổ chức về Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Thông tư 39).

Theo Ngân hàng Nhà nước, để tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng an toàn, hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển của công nghệ, yêu cầu thực tiễn và mục tiêu quản lý của Ngân hàng Nhà nước, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39 là cần thiết và cần sớm được ban hành. Dự thảo Thông tư gồm 10 điều, với nhiều nội dung sửa đổi đáng chú ý.

Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần khoản vay nhỏ gấp 4 lần, gỡ hạn mức cho vay trực tuyến
Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần khoản vay nhỏ gấp 4 lần, gỡ hạn mức cho vay trực tuyến. Ảnh tư liệu.

Theo dự thảo, một trong những điểm mới đáng chú ý là sửa đổi khoản 13 Điều 2 về “khoản cho vay có mức giá trị nhỏ”. Theo đó, mức cho vay nhỏ được nâng từ 100 triệu đồng lên tối đa 400 triệu đồng tại các tổ chức tín dụng (trừ Quỹ tín dụng nhân dân) và 200 triệu đồng tại Quỹ tín dụng nhân dân, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Các tổ chức tín dụng.

Theo ban soạn thảo, quy định này nhằm phù hợp với bối cảnh nền kinh tế hiện nay và tương quan đồng bộ với các quy định pháp luật khác.

"Riêng Quỹ tín dụng nhân dân, cần tách biệt với các tổ chức tín dụng khác, để phù hợp với đặc thù về quy mô hoạt động, năng lực tài chính và đối tượng khách hàng của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân; đồng thời, góp phần đảm bảo tính thận trọng trong cấp tín dụng và phản ánh đúng bản chất của các khoản vay quy mô nhỏ, lẻ đặc thù của Quỹ tín dụng nhân dân" - Ngân hàng Nhà nước lý giải.

Số liệu tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân tại thời điểm cuối tháng 3/2025, dư nợ bình quân mỗi khách hàng khoảng gần 300 triệu đồng/khách hàng, khoản vay 200 triệu đồng chiếm khoảng 2,9% vốn điều lệ.

Bỏ trần 100 triệu đồng cho vay trực tuyến, siết quy định xác minh khách hàng

Bên cạnh đó, tại Điều 7 Dự thảo Thông tư, Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung Điều 32b Thông tư 39 liên quan đến hoạt động cho vay bằng phương tiện điện tử. Trong đó, quy định tổ chức tín dụng phải có giải pháp, công nghệ kỹ thuật để nhận biết và xác minh thông tin nhận biết khách hàng phục vụ hoạt động cho vay bằng phương tiện điện tử; chịu trách nhiệm về rủi ro phát sinh (nếu có).

Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần khoản vay nhỏ gấp 4 lần, gỡ hạn mức cho vay trực tuyến
Ngân hàng Nhà nước đề xuất bãi bỏ Điều 32c, tức là không còn giới hạn 100 triệu đồng cho vay online. Ảnh minh họa.

Theo đó, tổ chức tín dụng thực hiện nhận biết và xác minh thông tin nhận biết khách hàng như việc nhận biết, xác minh thông tin nhận biết khách hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Cùng với đó, xây dựng quy trình quản lý, kiểm soát, đánh giá rủi ro, trong đó có biện pháp ngăn chặn các hành vi mạo danh, can thiệp, chỉnh sửa, làm sai lệch thông tin nhận biết khách hàng trong quá trình cho vay; có biện pháp để kiểm tra, xác minh thông tin nhận biết khách hàng đảm bảo khách hàng thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử là khách hàng vay vốn; có biện pháp kỹ thuật để xác nhận khách hàng đã được định danh đồng ý với thỏa thuận cho vay.

Đồng thời, quy trình quản lý, kiểm soát rủi ro phải thường xuyên được rà soát, hoàn thiện dựa trên những thông tin, dữ liệu cập nhật.

Dự thảo yêu cầu tổ chức tín dụng lưu trữ, bảo quản đầy đủ, chi tiết thông tin nhận biết khách hàng, dữ liệu sinh trắc học của khách hàng; âm thanh, hình ảnh, bản ghi hình, ghi âm; số điện thoại thực hiện giao dịch; nhật ký giao dịch trong quá trình cho vay...

Nhu cầu vay vốn vượt 100 triệu đồng, cần mở rộng hạn mức

"Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, chi phí sinh hoạt và mua sắm hàng hóa, dịch vụ có xu hướng tăng, dẫn đến nhu cầu vay vốn của khách hàng thường xuyên vượt quá mức 100 triệu đồng. Việc giới hạn mức 100 triệu đồng chưa đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng cũng như sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech). Việc mở rộng dịch vụ cho vay bằng phương tiện điện tử là xu hướng tất yếu trong chiến lược chuyển đổi số của ngành ngân hàng" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Lý giải cho việc sửa đổi, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, việc sửa đổi Điều 32b theo hướng tham chiếu quy định của Ngân hàng Nhà nước về mở tài khoản thanh toán bằng phương tiện điện tử, để đảm bảo tính đồng bộ, đồng thời quy định cho vay bằng phương tiện điện tử áp dụng đối với tổ chức và không giới hạn mục đích cho vay đối với cá nhân.

Qua đó, phù hợp với bối cảnh thúc đẩy quá trình chuyển đổi số hiện nay, góp phần gia tăng hiệu quả sử dụng vốn của tổ chức tín dụng, tăng tiện ích, rút ngắn thời gian, thủ tục để phục vụ khách hàng.

Đáng chú ý, dự thảo bãi bỏ Điều 32c quy định dư nợ cho vay đối với một khách hàng là cá nhân vay vốn phục vụ nhu cầu đời sống và được nhận biết, xác minh thông tin nhận biết khách hàng theo quy định tại Điều 32b Thông tư này không vượt quá 100 triệu đồng tại một tổ chức tín dụng.

Một số tổ chức tín dụng kiến nghị Ngân hàng Nhà nước nâng mức giới hạn dư nợ cho vay bằng phương tiện điện tử hoặc không quy định giới hạn, để các tổ chức tín dụng căn cứ trên khẩu vị rủi ro, nguồn lực về công nghệ để xác định giới hạn và tự chịu trách nhiệm đối với các rủi ro phát sinh.

Ngoài ra, dự thảo còn sửa đổi nhiều quy định về các điều kiện cho vay để trả nợ trước hạn khoản vay; thứ tự thu nợ gốc, lãi tiền vay.../.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

(TBTCO) - Bà Nguyễn Thị Hằng đã được trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội. Tân Tổng Giám đốc cam kết kế thừa thành quả của các thế hệ lãnh đạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và mở rộng tiếp cận vốn cho người nghèo.
Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

(TBTCO) - Diễn ra từ ngày 1/7 đến 30/9/2026 với hơn 5.000 ưu đãi, chương trình “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm” được Bảo hiểm Bảo Việt triển khai như một phần trong nỗ lực thúc đẩy văn hóa chủ động bảo vệ tài chính - gia đình.
Mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến

Mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Việc mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến từ ngày 1/7/2026 được kỳ vọng sẽ giảm gánh nặng chi phí, tạo thuận lợi hơn cho người bệnh trong tiếp cận dịch vụ y tế.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17968 18243 18862
CHF 31824 32205 32861
CNY 0 3829 3922
EUR 29342 29563 30646
GBP 34042 34432 35373
HKD 0 3222 3424
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14630 15218
SGD 19748 20029 20601
THB 704 767 820
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26466
AUD 17762 17862 18787
CAD 18138 18238 19249
CHF 32039 32069 33655
CNY 3809.9 3834.9 3970.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29497 29527 31250
GBP 34325 34375 36144
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14712 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20750
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,466
USD20 26,138 26,188 26,466
USD1 26,138 26,188 26,466
AUD 17,834 17,934 19,039
EUR 29,696 29,696 31,102
CAD 18,103 18,203 19,507
SGD 19,996 20,146 20,700
JPY 158.72 160.22 164.75
GBP 34,234 34,584 35,550
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80