Cho vay trực tuyến vẫn "vắng bóng" nhiều tổ chức tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cho vay trực tuyến được ví như cuộc "cách mạng" của ngành ngân hàng. Tuy đã có 28 tổ chức tín dụng tham gia, song thị trường vẫn còn khoảng trống lớn khi nhiều đơn vị chưa nhập cuộc.
aa

Cuộc "cách mạng" giúp vốn vay rẻ và dễ tiếp cận

Theo nhận định của PGS.TS Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ Tài chính (Trường Đại học Đại Nam), cho vay trực tuyến chính là một cuộc "cách mạng" của ngành ngân hàng, bởi hình thức này vừa tối ưu hóa chi phí vận hành, vừa nâng cao hiệu quả cho vay, đem lại lợi ích thiết thực cho cả tổ chức tín dụng và khách hàng.

Trước đây, các khoản vay tiêu dùng và món vay nhỏ lẻ khó phát triển do chi phí hành chính cao. "Chính chi phí hành chính “đội” chi phí vay, khiến lãi suất tăng cao" - ông Đức nói.

Trong một thập kỷ qua, cho vay trực tuyến vươn lên trở thành một trong những phân khúc phát triển nhanh nhất. Báo cáo của Mordor Intelligence dự báo, quy mô thị trường cho vay trực tuyến của các ngân hàng thương mại và cho vay ngang hàng (P2P lending) toàn cầu sẽ tăng từ 507,27 tỷ USD (năm 2024) lên 889,99 tỷ USD (năm 2029), tương ứng tốc độ tăng trưởng kép 11,9%.

Cho vay trực tuyến vẫn
Nguồn: Vụ Thanh toán, QĐ810/QĐ-NHNN Đồ họa: PHƯƠNG ANH

Còn tại Việt Nam, theo PGS.TS Đặng Ngọc Đức, giai đoạn 2023 - 2025, các ngân hàng thương mại đẩy mạnh số hóa quy trình, triển khai nhiều sản phẩm vay trực tuyến. Đặc biệt, các khoản vay nhỏ lẻ, vay trả góp và vay qua ứng dụng di động khá phát triển.

Nhu cầu vay online tăng mạnh nhờ người dân ngày càng quen với giao dịch số, nhất là giới trẻ, doanh nghiệp nhỏ và lao động tự do. Đến năm 2025, cho vay trực tuyến trở thành một cấu phần không thể thiếu trong hệ sinh thái tài chính số, nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng dư nợ từ kênh số vượt xa kỳ vọng và mở rộng phục vụ tới cả nông thôn, vùng sâu, vùng xa - những nơi vốn khó tiếp cận dịch vụ tài chính truyền thống.

Gần 30 tổ chức tín dụng nhập cuộc

Theo số liệu của Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước), tính đến cuối năm 2023, mới có dưới 20 tổ chức tín dụng tiến hành cho vay trực tuyến, nhưng đến cuối năm 2024, đã có 28 tổ chức tín dụng triển khai.

Đơn cử, VPBank triển khai cho vay thấu chi, vay mua xe trực tuyến thông qua hợp tác với Momo; MB cho vay tiêu dùng qua ứng dụng, tích hợp giải pháp xác minh danh tính của khách hàng online thông qua công nghệ (eKYC); ACB cho vay tiêu dùng trực tuyến, tích hợp xác thực qua căn cước công dân gắn chip; BIDV số hóa toàn bộ quy trình cho vay bán lẻ và tổ chức nhờ tích hợp hệ thống khởi tạo khoản vay tự động (RLOS) và trang bị giải pháp quản lý khoản vay (CROMS); MSB cho vay kinh doanh đến 20 tỷ đồng qua nền tảng số, với lãi suất ưu đãi...

Tại MB, các dịch vụ ngân hàng trực tuyến được triển khai đồng bộ trên 2 nền tảng là MBBank cho khách hàng cá nhân và Biz MBBank cho khách hàng doanh nghiệp.

Nhiều tổ chức tín dụng vẫn "đứng ngoài"

"Chúng ta có thể nhìn thấy ưu thế của cho vay trực tuyến và hành lang pháp lý hiện nay về cơ bản đã đáp ứng để các tổ chức tín dụng tham gia. Tuy vậy, vẫn còn điểm hạn chế là tính đến thời điểm này, chỉ có chưa tới 30 đơn vị tham gia, trong khi có gần 100 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động. Đây là con số đáng để suy nghĩ. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại nhiều thách thức gây ra những rủi ro".

Ông Phạm Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước

Theo đại diện MB, ngân hàng phục vụ hơn 33 triệu khách hàng cá nhân, trong đó 100% mở tài khoản bằng eKYC thành công, toàn bộ khoản vay tín chấp được giải ngân trực tuyến và gần 91% khoản vay sản xuất, kinh doanh cũng thực hiện online, đạt doanh số lũy kế hơn 165.000 tỷ đồng chỉ trong 8 tháng năm 2025. Với Biz MBBank, có hơn 350.000 doanh nghiệp đang sử dụng, trong đó 100% doanh nghiệp siêu nhỏ có thể nhận và giải ngân vốn trực tuyến.

Điểm nhấn của cả 2 nền tảng là toàn bộ giao dịch vay vốn đều sử dụng hợp đồng điện tử với chữ ký số, vừa đảm bảo tính pháp lý, vừa mang lại trải nghiệm nhanh chóng, an toàn.

Bên cạnh các ngân hàng, nhiều công ty công nghệ tài chính (fintech) và tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng tham gia sôi động vào thị trường này, cung cấp dịch vụ cho vay trực tuyến, thanh toán điện tử và tài chính nhúng, như MoMo, Tima, MISA Lending...

Bà Nguyễn Thị Ngoan - Giám đốc Tài chính Tập đoàn MISA, Giám đốc Công ty cổ phần JETPAY đánh giá, vay trực tuyến, tín chấp, không giấy tờ là xu thế và chìa khóa tháo gỡ nút thắt vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giải pháp này số hóa toàn bộ quy trình, giải ngân chỉ trong 24 giờ, thay vì vài tuần như truyền thống, không cần tài sản bảo đảm, mà dựa trên dữ liệu số. Riêng MISA Lending sau 8 tháng năm 2025 đã giải ngân gần 12.000 tỷ đồng, với tỷ lệ vay thành công đạt 30%, cao gấp 10 lần quy trình truyền thống.

Khác với cách vay cũ, theo lãnh đạo JETPAY, cho vay trực tuyến khai thác cả dữ liệu tĩnh và dữ liệu động, như dòng tiền, hóa đơn điện tử, dữ liệu kế toán…, giúp chấm điểm tín dụng minh bạch, giảm rủi ro nợ xấu. "Khi kết hợp giữa dữ liệu tĩnh và dữ liệu động sẽ giúp ngân hàng chấm điểm tín dụng minh bạch, chính xác và giảm thiểu được rủi ro về nợ xấu" - bà Ngoan nhấn mạnh.

Cho vay trực tuyến dù được xác định là xu hướng tất yếu với tiềm năng lớn, song vẫn đối mặt nhiều thách thức. Theo PGS.TS Đặng Ngọc Đức, về pháp lý, quy định liên quan đến hợp đồng điện tử, bảo vệ dữ liệu và xác thực khách hàng còn chưa đầy đủ, khiến trách nhiệm pháp lý khi xảy ra tranh chấp chưa rõ ràng. Về dữ liệu và công nghệ, các ngân hàng chủ yếu dựa vào thông tin truyền thống, chưa khai thác dữ liệu phi tài chính, dẫn tới rủi ro tín dụng và gian lận còn cao.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce sau khi giảm hơn 100 USD/ounce so với phiên trước, kéo chênh lệch với giá vàng trong nước lên 20 triệu đồng/lượng.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,150 ▲50K 13,350 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 13,100 ▲50K 13,300 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 ▼50K 14,150 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 ▼50K 14,100 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 ▼50K 14,080 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Hà Nội - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Miền Tây - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 ▲100K 14,540 ▲100K
Trang sức 99.99 13,850 ▲100K 14,550 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1288K 14,702 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1288K 14,703 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▲8K 1,469 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▲8K 147 ▼1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▲8K 1,454 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼122472K 14,396 ▼128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▲600K 109,211 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▲544K 99,032 ▲544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▲488K 88,853 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲67931K 84,927 ▲76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▲334K 60,788 ▲334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Cập nhật: 26/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17598 17871 18453
CAD 18006 18281 18898
CHF 31886 32267 32912
CNY 0 3826 3919
EUR 29355 29575 30655
GBP 33960 34350 35278
HKD 0 3222 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14548 15139
SGD 19775 20057 20635
THB 703 766 819
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26454
AUD 17775 17875 18798
CAD 18184 18284 19295
CHF 32137 32167 33749
CNY 3806.4 3831.4 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29509 29539 31264
GBP 34233 34283 36041
HKD 0 3355 0
JPY 159.27 159.77 170.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14653 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19930 20060 20794
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,454
USD20 26,138 26,188 26,454
USD1 26,138 26,188 26,454
AUD 17,821 17,921 18,639
EUR 29,623 29,623 31,340
CAD 18,129 18,229 19,537
SGD 19,998 20,148 20,706
JPY 159.75 161.25 165.82
GBP 34,121 34,471 35,336
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80