Khát thanh khoản, lãi suất tăng nhiệt cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động đang tăng nhiệt khi nhiều ngân hàng đồng loạt nâng lãi suất từ đầu tháng 11. Diễn biến này phản ánh nhu cầu vốn tăng mạnh vào giai đoạn cao điểm, trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động và thanh khoản hệ thống có dấu hiệu căng thẳng.
aa

Lãi suất huy động đồng loạt tăng, lãi suất liên ngân hàng vượt 6%

Nối tiếp đà tăng lãi suất của một số nhà băng trong tháng 10, sang tháng 11, "làn sóng" tăng lãi suất huy động lan rộng, khi có hơn 10 ngân hàng điều chỉnh lãi suất, như Sacombank, VPBank, HDBank, GPBank, Techcombank... Trong đó, nhiều ngân hàng đưa lãi suất kỳ hạn dưới 6 tháng lên mức trần 4,75%/năm.

Mặt bằng lãi suất tiền gửi tăng trở lại từ đầu quý IV/2025 phản ánh nhu cầu huy động vốn đang lên, nhằm đáp ứng đà tăng tín dụng, thường bứt tốc vào cuối năm theo chu kỳ mùa vụ. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 10/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 14,77% so với cuối năm 2024 và tăng 20,69% so với cùng kỳ năm 2024.

Khát thanh khoản, lãi suất tăng nhiệt cuối năm
Nguồn: Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap.

Theo ghi nhận, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân tăng lên mức 5,34%/năm, trong khi lãi suất huy động của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước vẫn ổn định ở mức 4,7%/năm. Tính chung, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của toàn khối ngân hàng thương mại đã tăng 15 điểm cơ bản so với đầu năm, lên mức 5% vào cuối tháng 10.

Dự báo đồng thuận của nhiều đơn vị phân tích cho thấy, lãi suất tiền gửi sẽ tăng 20 - 50 điểm cơ bản trong nửa cuối năm 2025 so với nửa đầu năm 2025.

Cùng với đó, trên thị trường 2 (thị trường tiền tệ liên ngân hàng), lãi suất liên ngân hàng tăng trở lại trong tháng 10, với lãi suất qua đêm lên mức bình quân 4,8%, tăng cao hơn mức 4,1% trong tháng 9. Nguyên nhân đến từ lượng hợp đồng mua bán lại giấy tờ có giá (repo) đáo hạn lớn, khoảng 250.000 tỷ đồng và nhu cầu tín dụng tăng mạnh vào cuối năm.

Để bù đắp áp lực thanh khoản này, Ngân hàng Nhà nước đã bơm 290.000 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, với lượng bơm ròng lên 39.305,41 tỷ đồng.

Nhiều áp lực trong "mùa chốt sổ"

"Áp lực phải hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận cuối năm khiến các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh cho vay. Tuy nhiên, lãi suất cho vay được yêu cầu giữ ổn định và giảm xuống, làm biên lãi ròng (NIM) suy giảm, nên bắt buộc các ngân hàng phải có toan tính riêng. Do xuất hiện tình trạng căng thẳng thanh khoản cục bộ tại một số ngân hàng, nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy động, các ngân hàng lớn cũng có xu hướng đẩy lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn lên cao để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, tạo thêm sức ép và gây ra sự căng thẳng giai đoạn qua".

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Dù vậy, trên thực tế, căng thẳng thanh khoản vẫn chưa nguôi, khi lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn bám sát và vượt 6%/năm, bất chấp nhà điều hành bơm ròng 66.210,8 tỷ đồng chỉ tính từ đầu tháng 11 đến ngày 13/11. Theo đó, lãi suất qua đêm ngày 12/11 ở mức 6,01%. Các kỳ hạn dài hơn như 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng cũng đồng loạt neo quanh vùng 6%. Lãi suất 1 tuần lên 6,23%; lãi suất 2 tuần lên 6,18%; lãi suất 1 tháng cao nhất, lên tới 6,26% và 3 tháng đạt 6,19%.

Gần đây, Ngân hàng Nhà nước cũng bất ngờ chào thầu qua thị trường mở (OMO) với kỳ hạn siêu dài 105 ngày, cho thấy nhà điều hành đánh giá tình trạng căng thẳng thanh khoản sẽ kéo dài và chủ động bơm vốn nhằm hỗ trợ hệ thống vượt qua giai đoạn cao điểm.

Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục chịu áp lực trong tháng 11, do tăng trưởng tín dụng tăng tốc vào cuối năm và ước tính 162.000 tỷ đồng đáo hạn trong tháng. Dù vậy, Ngân hàng Nhà nước có thể duy trì điều kiện thanh khoản ổn định bằng cách tiếp tục bơm thanh khoản thông qua OMO để giảm bớt áp lực huy động vốn ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng.

Thanh khoản kẹt, cạnh tranh huy động nóng lên

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, thanh khoản hệ thống đang gặp khó. "Tiền gửi ngân hàng đang phải cạnh tranh trực tiếp với các kênh đầu tư khác như vàng, bất động sản, chứng khoán... Vì vậy, dòng vốn chắc chắn sẽ có sự dịch chuyển" - ông Linh đánh giá.

Do đó, tổng huy động hệ thống sụt giảm là điều dễ hiểu, đặc biệt khi giá vàng tăng mạnh, khiến nhiều người cân nhắc rút tiền gửi. Chưa kể, mức lãi suất thực dương đang rất thấp, ảnh hưởng đến kỳ vọng của người gửi tiền và làm tăng xu hướng dịch chuyển vốn sang các kênh đầu tư khác. Vì vậy, sẽ xuất hiện xu hướng tăng lãi suất huy động ở kỳ hạn trên 12 tháng, bởi lãi suất ngắn hạn dưới 6 tháng bị giới hạn bởi mức trần quy định.

Điều này tạo ra sức ép khiến các ngân hàng phải vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao hơn, nhất là khi trước đó Ngân hàng Nhà nước đã hút tiền về thông qua thị trường OMO. Nhiều yếu tố cộng hưởng đang tạo ra nghịch lý trên thị trường, đẩy lãi suất liên ngân hàng lên cao.

Một nguyên nhân khác đến từ tỷ giá. Khi đồng nội tệ trượt giá, lãi suất phải gánh thêm vai trò hỗ trợ cho sức mạnh của VND, giúp duy trì biên độ VND - USD phù hợp để giữ ổn định tỷ giá và kiểm soát kỳ vọng thị trường.

Ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty cổ phần WiGroup cho hay, các ngân hàng thương mại lớn đã bắt đầu điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn ngắn từ cuối tháng 9 và đầu tháng 10. Còn nhóm ngân hàng nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất sớm hơn nhóm ngân hàng lớn, bắt đầu từ 1 - 2 tháng trước. Điều đó cho thấy, lãi suất huy động đang bước vào một chu kỳ tăng mới.

Trong bối cảnh tình trạng “khát vốn” trong hệ thống liên ngân hàng khiến lãi suất huy động đầu vào tăng, khả năng cho vay cũng bị thu hẹp và khó tránh lãi suất cho vay cũng tăng trở lại.

Mặt bằng lãi suất đã tạo đáy

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), thanh khoản hệ thống không còn dồi dào, do tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động, trong khi áp lực tỷ giá vẫn xuất hiện tại một số thời điểm.

Tín dụng toàn hệ thống tăng trưởng 13,4% từ đầu năm đến cuối tháng 9/2025, là mức tăng cao nhất cùng kỳ trong nhiều năm trở lại đây. Trong khi đó, tăng trưởng huy động đạt 9,7%, tạo ra chênh lệch đáng kể so với tốc độ tăng tín dụng.

Trong bối cảnh định hướng nới lỏng chính sách tiền tệ xuyên suốt cả năm, mặt bằng lãi suất nhìn chung vẫn ổn định, các ngân hàng được hỗ trợ thanh khoản phục vụ mục tiêu tăng trưởng chung thông qua việc giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc với ngân hàng tham gia xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trên thị trường liên ngân hàng. Tuy nhiên, đã có một số ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tín dụng trên 20% trong 9 tháng, từ đó, tạo áp lực nhất định lên mặt bằng lãi suất huy động như dự báo trước đó.

Theo khảo sát của nhóm phân tích KBSV, mặt bằng lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng đã chững lại trong vài tháng gần đây, sau giai đoạn giảm mạnh từ đầu năm. Việc duy trì lãi suất cho vay thấp kéo dài đã hỗ trợ đáng kể cho quá trình phục hồi kinh tế 9 tháng năm 2025, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng và bất động sản.

"Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất hiện nay nhiều khả năng đã tạo đáy khi sức khỏe nền kinh tế cải thiện rõ rệt; lãi suất huy động bắt đầu tăng trở lại do nhu cầu vốn cuối năm tăng cao; biên lãi ròng của các ngân hàng suy giảm đáng kể. Do đó, lãi suất cho vay có thể tăng nhẹ trong quý IV, nhưng vẫn giữ được xu hướng hỗ trợ tăng trưởng và không làm đảo chiều chính sách nới lỏng" - nhóm phân tích KBSV đánh giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80