Khát thanh khoản, lãi suất tăng nhiệt cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động đang tăng nhiệt khi nhiều ngân hàng đồng loạt nâng lãi suất từ đầu tháng 11. Diễn biến này phản ánh nhu cầu vốn tăng mạnh vào giai đoạn cao điểm, trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động và thanh khoản hệ thống có dấu hiệu căng thẳng.
aa

Lãi suất huy động đồng loạt tăng, lãi suất liên ngân hàng vượt 6%

Nối tiếp đà tăng lãi suất của một số nhà băng trong tháng 10, sang tháng 11, "làn sóng" tăng lãi suất huy động lan rộng, khi có hơn 10 ngân hàng điều chỉnh lãi suất, như Sacombank, VPBank, HDBank, GPBank, Techcombank... Trong đó, nhiều ngân hàng đưa lãi suất kỳ hạn dưới 6 tháng lên mức trần 4,75%/năm.

Mặt bằng lãi suất tiền gửi tăng trở lại từ đầu quý IV/2025 phản ánh nhu cầu huy động vốn đang lên, nhằm đáp ứng đà tăng tín dụng, thường bứt tốc vào cuối năm theo chu kỳ mùa vụ. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 10/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 14,77% so với cuối năm 2024 và tăng 20,69% so với cùng kỳ năm 2024.

Khát thanh khoản, lãi suất tăng nhiệt cuối năm
Nguồn: Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap.

Theo ghi nhận, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân tăng lên mức 5,34%/năm, trong khi lãi suất huy động của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước vẫn ổn định ở mức 4,7%/năm. Tính chung, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của toàn khối ngân hàng thương mại đã tăng 15 điểm cơ bản so với đầu năm, lên mức 5% vào cuối tháng 10.

Dự báo đồng thuận của nhiều đơn vị phân tích cho thấy, lãi suất tiền gửi sẽ tăng 20 - 50 điểm cơ bản trong nửa cuối năm 2025 so với nửa đầu năm 2025.

Cùng với đó, trên thị trường 2 (thị trường tiền tệ liên ngân hàng), lãi suất liên ngân hàng tăng trở lại trong tháng 10, với lãi suất qua đêm lên mức bình quân 4,8%, tăng cao hơn mức 4,1% trong tháng 9. Nguyên nhân đến từ lượng hợp đồng mua bán lại giấy tờ có giá (repo) đáo hạn lớn, khoảng 250.000 tỷ đồng và nhu cầu tín dụng tăng mạnh vào cuối năm.

Để bù đắp áp lực thanh khoản này, Ngân hàng Nhà nước đã bơm 290.000 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, với lượng bơm ròng lên 39.305,41 tỷ đồng.

Nhiều áp lực trong "mùa chốt sổ"

"Áp lực phải hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận cuối năm khiến các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh cho vay. Tuy nhiên, lãi suất cho vay được yêu cầu giữ ổn định và giảm xuống, làm biên lãi ròng (NIM) suy giảm, nên bắt buộc các ngân hàng phải có toan tính riêng. Do xuất hiện tình trạng căng thẳng thanh khoản cục bộ tại một số ngân hàng, nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy động, các ngân hàng lớn cũng có xu hướng đẩy lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn lên cao để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, tạo thêm sức ép và gây ra sự căng thẳng giai đoạn qua".

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Dù vậy, trên thực tế, căng thẳng thanh khoản vẫn chưa nguôi, khi lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn bám sát và vượt 6%/năm, bất chấp nhà điều hành bơm ròng 66.210,8 tỷ đồng chỉ tính từ đầu tháng 11 đến ngày 13/11. Theo đó, lãi suất qua đêm ngày 12/11 ở mức 6,01%. Các kỳ hạn dài hơn như 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng cũng đồng loạt neo quanh vùng 6%. Lãi suất 1 tuần lên 6,23%; lãi suất 2 tuần lên 6,18%; lãi suất 1 tháng cao nhất, lên tới 6,26% và 3 tháng đạt 6,19%.

Gần đây, Ngân hàng Nhà nước cũng bất ngờ chào thầu qua thị trường mở (OMO) với kỳ hạn siêu dài 105 ngày, cho thấy nhà điều hành đánh giá tình trạng căng thẳng thanh khoản sẽ kéo dài và chủ động bơm vốn nhằm hỗ trợ hệ thống vượt qua giai đoạn cao điểm.

Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục chịu áp lực trong tháng 11, do tăng trưởng tín dụng tăng tốc vào cuối năm và ước tính 162.000 tỷ đồng đáo hạn trong tháng. Dù vậy, Ngân hàng Nhà nước có thể duy trì điều kiện thanh khoản ổn định bằng cách tiếp tục bơm thanh khoản thông qua OMO để giảm bớt áp lực huy động vốn ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng.

Thanh khoản kẹt, cạnh tranh huy động nóng lên

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, thanh khoản hệ thống đang gặp khó. "Tiền gửi ngân hàng đang phải cạnh tranh trực tiếp với các kênh đầu tư khác như vàng, bất động sản, chứng khoán... Vì vậy, dòng vốn chắc chắn sẽ có sự dịch chuyển" - ông Linh đánh giá.

Do đó, tổng huy động hệ thống sụt giảm là điều dễ hiểu, đặc biệt khi giá vàng tăng mạnh, khiến nhiều người cân nhắc rút tiền gửi. Chưa kể, mức lãi suất thực dương đang rất thấp, ảnh hưởng đến kỳ vọng của người gửi tiền và làm tăng xu hướng dịch chuyển vốn sang các kênh đầu tư khác. Vì vậy, sẽ xuất hiện xu hướng tăng lãi suất huy động ở kỳ hạn trên 12 tháng, bởi lãi suất ngắn hạn dưới 6 tháng bị giới hạn bởi mức trần quy định.

Điều này tạo ra sức ép khiến các ngân hàng phải vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao hơn, nhất là khi trước đó Ngân hàng Nhà nước đã hút tiền về thông qua thị trường OMO. Nhiều yếu tố cộng hưởng đang tạo ra nghịch lý trên thị trường, đẩy lãi suất liên ngân hàng lên cao.

Một nguyên nhân khác đến từ tỷ giá. Khi đồng nội tệ trượt giá, lãi suất phải gánh thêm vai trò hỗ trợ cho sức mạnh của VND, giúp duy trì biên độ VND - USD phù hợp để giữ ổn định tỷ giá và kiểm soát kỳ vọng thị trường.

Ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty cổ phần WiGroup cho hay, các ngân hàng thương mại lớn đã bắt đầu điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn ngắn từ cuối tháng 9 và đầu tháng 10. Còn nhóm ngân hàng nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất sớm hơn nhóm ngân hàng lớn, bắt đầu từ 1 - 2 tháng trước. Điều đó cho thấy, lãi suất huy động đang bước vào một chu kỳ tăng mới.

Trong bối cảnh tình trạng “khát vốn” trong hệ thống liên ngân hàng khiến lãi suất huy động đầu vào tăng, khả năng cho vay cũng bị thu hẹp và khó tránh lãi suất cho vay cũng tăng trở lại.

Mặt bằng lãi suất đã tạo đáy

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), thanh khoản hệ thống không còn dồi dào, do tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động, trong khi áp lực tỷ giá vẫn xuất hiện tại một số thời điểm.

Tín dụng toàn hệ thống tăng trưởng 13,4% từ đầu năm đến cuối tháng 9/2025, là mức tăng cao nhất cùng kỳ trong nhiều năm trở lại đây. Trong khi đó, tăng trưởng huy động đạt 9,7%, tạo ra chênh lệch đáng kể so với tốc độ tăng tín dụng.

Trong bối cảnh định hướng nới lỏng chính sách tiền tệ xuyên suốt cả năm, mặt bằng lãi suất nhìn chung vẫn ổn định, các ngân hàng được hỗ trợ thanh khoản phục vụ mục tiêu tăng trưởng chung thông qua việc giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc với ngân hàng tham gia xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trên thị trường liên ngân hàng. Tuy nhiên, đã có một số ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tín dụng trên 20% trong 9 tháng, từ đó, tạo áp lực nhất định lên mặt bằng lãi suất huy động như dự báo trước đó.

Theo khảo sát của nhóm phân tích KBSV, mặt bằng lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng đã chững lại trong vài tháng gần đây, sau giai đoạn giảm mạnh từ đầu năm. Việc duy trì lãi suất cho vay thấp kéo dài đã hỗ trợ đáng kể cho quá trình phục hồi kinh tế 9 tháng năm 2025, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng và bất động sản.

"Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất hiện nay nhiều khả năng đã tạo đáy khi sức khỏe nền kinh tế cải thiện rõ rệt; lãi suất huy động bắt đầu tăng trở lại do nhu cầu vốn cuối năm tăng cao; biên lãi ròng của các ngân hàng suy giảm đáng kể. Do đó, lãi suất cho vay có thể tăng nhẹ trong quý IV, nhưng vẫn giữ được xu hướng hỗ trợ tăng trưởng và không làm đảo chiều chính sách nới lỏng" - nhóm phân tích KBSV đánh giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80