Loạt thách thức đe doạ vị thế đồng USD

Tùng Linh
(TBTCO) - Vị thế USD trên toàn cầu đang suy giảm nhưng vẫn không thể thay thế, thậm chí có thể lấy lại vị trí dẫn đầu nhờ sự trỗi dậy của các tài sản mới.
aa

Trong gần một thế kỷ, đồng USD đã giữ vai trò thống trị tuyệt đối trong hệ thống tài chính toàn cầu, từ dự trữ ngoại hối, thanh toán quốc tế đến định giá hàng hóa chiến lược. Tuy nhiên, những biến động kinh tế địa chính trị gần đây, cùng sự nổi lên của các loại hình tài sản mới, đang đặt đồng bạc xanh trước loạt thách thức chưa từng có. Dù vậy, theo chia sẻ của các chuyên gia tại Tọa đàm “Sức hút của các lớp tài sản", sức mạnh của USD vẫn chưa thể bị thay thế trong tương lai gần.

Loạt thách thức đe doạ vị thế đồng USD
Ảnh: TL minh họa

Vị thế USD suy giảm nhưng vẫn mạnh

Theo chia sẻ của ông Trịnh Hà, Chuyên gia chiến lược tại Exness Investment Bank, USD đã xây dựng nền tảng thống trị từ sau hệ thống Bretton Woods và tiếp tục duy trì vị thế nhờ cơ chế Petrodollar. Hiện nay, USD vẫn chiếm phần lớn trong các giao dịch xuyên biên giới, dự trữ ngoại hối và trở thành tài sản chủ chốt của hệ thống tài chính quốc tế.

Tuy nhiên, tỷ trọng USD trong dự trữ toàn cầu đang giảm dần. Nếu đầu thế kỷ 21 chiếm hơn 70%, thì nay chỉ còn khoảng 56%. Sự suy giảm này đến từ việc nhiều quốc gia đa dạng hóa dự trữ.

Một trong những lý do khiến niềm tin vào USD xói mòn là rủi ro nội tại của nền kinh tế Mỹ. Tỷ lệ nợ công/GDP đã vượt 100% từ năm 2017 và hiện đạt 114,8%. Bội chi ngân sách duy trì ở mức cao, trung bình 5-6% GDP suốt một thập kỷ qua. Chi thường xuyên, đặc biệt là quốc phòng, ngày càng phình to và dự kiến chiếm tới 81% tổng chi ngân sách vào năm 2055. Theo dự báo của Bloomberg, nếu thâm hụt ngân sách tiếp tục ở mức 3% GDP và tăng trưởng không vượt lãi suất, nợ công của Mỹ có thể leo lên mức 190% vào năm 2055.

Cùng với đó, lạm phát Mỹ tăng trở lại mức 3% khiến nỗi lo đình lạm xuất hiện. Thị trường lao động cũng cho thấy dấu hiệu hạ nhiệt khi số lượng việc làm mới liên tục giảm. Dù đối diện nhiều rủi ro, Mỹ vẫn sở hữu những lợi thế then chốt để bảo toàn vai trò của đồng bạc xanh. Quy mô nền kinh tế và thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới tiếp tục là điểm tựa khiến các quốc gia các nước khác vẫn sẽ phải phụ thuộc vào việc giao thương bằng USD. Đặc biệt, làn sóng đầu tư mạnh mẽ vào trí tuệ nhân tạo (AI) đang giúp Mỹ duy trì vị thế dẫn đầu về công nghệ và năng suất. Theo ông Trịnh Hà, dù nguy cơ “bong bóng AI” có thể xảy ra, đầu tư vào công nghệ vẫn là động lực giữ Mỹ ở vị trí trung tâm của chuỗi giá trị toàn cầu, từ đó gián tiếp củng cố nhu cầu đối với USD.

Thách thức từ vàng, CBDC và stablecoin

Một trong những xu hướng nổi bật làm suy yếu tương đối vai trò của USD là sự trở lại mạnh mẽ của vàng trong danh mục dự trữ của các ngân hàng trung ương (NHTW). Trong ba năm gần nhất, NHTW toàn cầu đã mua ròng hơn 1.000 tấn vàng mỗi năm. Riêng 9 tháng năm 2025, lượng vàng mua vào đạt hơn 730 tấn và dự kiến cả năm sẽ vượt mốc 1.000 tấn.

Các quốc gia BRICS, đặc biệt là Trung Quốc, đi đầu trong chu kỳ tích lũy này. Dù tỷ trọng vàng trong dự trữ của Trung Quốc mới đạt 7,7%, nhưng tỷ lệ nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ đã giảm xuống hơn 20% – mức thấp nhất trong 16 năm. Xu hướng đa dạng hóa dự trữ sang vàng chủ yếu xuất phát từ lo ngại sau sự kiện Mỹ và đồng minh phong tỏa tài sản của Nga, khiến nhiều quốc gia thận trọng hơn trong việc dựa quá nhiều vào USD.

Loạt thách thức đe doạ vị thế đồng USD
Các quốc gia BRICS tăng dự trữ ngoại hối bằng vàng - Ảnh: Exness

Theo ông Trịnh Hà, lượng vàng mua vào lớn phản ánh nhu cầu tìm kiếm tài sản trú ẩn trong bối cảnh nợ công Mỹ gia tăng và USD có dấu hiệu suy yếu. Do đó, chuyên gia từ Exness Investment Bank dự báo giá vàng có thể đạt mốc 5.000 USD/ounce vào năm 2026.

Bên cạnh vàng, sự nổi lên của các tài sản số và hệ thống tiền tệ mới cũng đang đặt USD vào thế bị cạnh tranh. Theo CME Group, có tới 134 quốc gia đang thử nghiệm hoặc vận hành tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC). CBDC có tốc độ xử lý nhanh, chi phí thấp, và tiềm năng thay đổi cấu trúc thanh toán quốc tế trong tương lai.

Dữ liệu từ DefiLlama cho thấy tổng giá trị stablecoin lưu hành đã vượt 300 tỷ USD, trong đó hơn 99% neo theo USD. Con số này dự kiến có thể tăng lên 2.000 tỷ USD vào năm 2028. Giá trị giao dịch stablecoin hiện khoảng 28 tỷ USD/năm và được dự báo có thể vượt giao dịch truyền thống trong hơn một thập kỷ tới.

Dù vậy, “đối thủ trực tiếp” của USD hiện tại là các stablecoin. Nghịch lý nằm ở chỗ stablecoin tăng trưởng mạnh khiến USD bị cạnh tranh trong thanh toán, nhưng bản thân các đồng này lại phải được bảo chứng bằng USD, trái phiếu Chính phủ Mỹ... Điều này khiến nhu cầu USD trong hệ sinh thái tài sản số tiếp tục duy trì.

Ngoài ra, theo ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc Trung tâm phân tích SmartInvest, đồng USD còn đang chịu áp lực từ nhiều phía, từ việc Nga phát hành trái phiếu bằng nhân dân tệ đến xu hướng thanh toán petroyuan.

Theo các chuyên gia, loạt diễn biến mới cho thấy USD đang đi vào giai đoạn vừa thách thức nhưng cũng vừa là cơ hội. Sự nổi lên của CBDC và stablecoin làm suy yếu vai trò truyền thống của USD trong thanh toán, nhưng lại gia tăng nhu cầu sử dụng USD để bảo chứng. Trong khi đó, vàng trở thành kênh trú ẩn quan trọng nhưng không đủ nguồn cung để thay thế USD làm tài sản dự trữ chủ đạo.

Ông Trịnh Hà dự báo vị thế USD trên toàn cầu vẫn không thể thay thế, thậm chí có thể lấy lại vị thế dẫn đầu nhờ sự trỗi dậy của các tài sản mới. USD được dự báo vẫn sẽ giữ vai trò trung tâm trong hệ thống tài chính toàn cầu ít nhất trong vài thập kỷ tới.

Tùng Linh

Đọc thêm

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu năm 2026 đạt doanh thu bảo hiểm gốc 6.200 tỷ đồng, tái cấu trúc danh mục nghiệp vụ theo hướng giảm dần phụ thuộc vào xe cơ giới. Doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh phân phối, hợp tác với các đối tác chiến lược, phát triển bảo hiểm số, hướng tới lọt top 4 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu.
Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch năm 2026 với phí bảo hiểm giữ lại đạt 1.326,3 tỷ đồng, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc còn 879 tỷ đồng, giảm 66% cùng kỳ. Dù quy mô thu hẹp, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng 73% lên 49 tỷ đồng, tiếp tục theo đuổi chiến lược tinh gọn, tập trung vào hiệu quả lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển mới.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

(TBTCO) - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa ký ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong thu hồi nợ áp dụng cho các tổ chức tín dụng hội viên, nhằm chuẩn hóa hoạt động toàn hệ thống. Bộ Quy tắc nghiêm cấm nhân viên thu hồi nợ sử dụng vũ lực, đe dọa, quấy rối, xúc phạm khách hàng và người có liên quan.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 17,250
Kim TT/AVPL 16,940 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,500 15,700
Nguyên Liệu 99.9 15,450 15,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 17,020
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 16,970
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 16,950
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 172,200 ▲3200K 172,000
Hà Nội - PNJ 172,200 ▲3200K 172,000
Đà Nẵng - PNJ 172,200 ▲3200K 172,000
Miền Tây - PNJ 172,200 ▲3200K 172,000
Tây Nguyên - PNJ 172,200 ▲3200K 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 172,200 ▲3200K 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,250 ▲300K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 17,250 ▲300K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 17,250 ▲300K 17,550 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲300K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲300K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲300K 17,500 ▲300K
NL 99.90 15,620 ▲120K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,650 ▲120K
Trang sức 99.9 16,690 ▲300K 17,390 ▲300K
Trang sức 99.99 16,700 ▲300K 17,400 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 17,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 17,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 172
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 1,705
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 168,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 128,038
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 116,102
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 104,165
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 99,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 71,256
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cập nhật: 08/04/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80