Năm 2026, ngành ngân hàng bước vào giai đoạn sàng lọc, phân hóa

(TBTCO) - Bước sang năm 2026, triển vọng ngành ngân hàng được nhìn nhận thận trọng hơn khi thị trường bước vào giai đoạn sàng lọc, làm rõ sự phân hóa nội ngành và đặt trọng tâm vào chất lượng tăng trưởng của từng tổ chức.
aa

Tại sự kiện WeTalk "Đầu tư gì 2026?" do Cộng đồng Cố vấn Tài chính Việt Nam tổ chức, triển vọng ngành ngân hàng cho năm 2026 được nhìn nhận theo hướng thận trọng hơn, trong bối cảnh thị trường bước vào giai đoạn đòi hỏi cao hơn về chất lượng tăng trưởng và khả năng thích ứng với môi trường vĩ mô mới.

Dưới góc nhìn của ông Trần Thăng Long – Giám đốc Trung tâm Phân tích và Nghiên cứu, Công ty CP Chứng khoán BIDV (BSC), ngành ngân hàng hiện là một trong những nhóm ngành có mức độ minh bạch thông tin thuộc nhóm cao trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Hoạt động kinh doanh, khẩu vị rủi ro, cơ cấu tín dụng cũng như phân khúc khách hàng của các ngân hàng nhìn chung đã được thị trường nắm bắt khá rõ, khiến ngân hàng không còn là nhóm ngành mang tính “bí ẩn” đối với nhà đầu tư như giai đoạn trước.

Ngành ngân hàng bước vào giai đoạn sàng lọc khi thị trường hướng tới năm 2026
Các chuyên gia chia sẻ tại phiên 2 sự kiện WeTalk "Đầu tư gì 2026?".

Tuy nhiên, mức độ minh bạch cao cũng làm nổi bật sự phân hóa ngày càng rõ nét trong nội bộ ngành. Dù cùng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, sự khác biệt giữa các tổ chức thể hiện rõ ở quy mô, chất lượng tài sản, phân khúc khách hàng mục tiêu và năng lực quản trị rủi ro. Theo ông Long, triển vọng của ngành vì vậy không hoàn toàn đồng đều, khi một số ngân hàng vẫn duy trì được dư địa tăng trưởng tốt, trong khi những ngân hàng khác bắt đầu đối mặt với giới hạn về nguồn lực và khả năng mở rộng tín dụng.

Một trong những thách thức lớn của ngành ngân hàng trong giai đoạn tới là áp lực duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong nhiều năm liên tiếp. Việc lặp lại mức tăng trưởng tín dụng quanh ngưỡng 17% không còn là bài toán dễ, nhất là khi quy mô nền kinh tế đã mở rộng và yêu cầu về chất lượng tín dụng ngày càng khắt khe. Trong bối cảnh đó, ngân hàng vẫn được kỳ vọng đóng góp tích cực cho tăng trưởng chung của thị trường, song vai trò dẫn dắt nhiều khả năng mang tính phân hóa, thay vì tập trung vào một vài ngân hàng nổi trội.

Xét về mặt định giá, chuyên gia đến từ BSC cho rằng, phần lớn cổ phiếu ngân hàng hiện đang giao dịch ở mức tương đối hợp lý so với kỳ vọng của thị trường, ngoại trừ một số trường hợp có mức định giá cao hơn mặt bằng chung. Trong ngắn hạn, rủi ro nợ xấu chưa tạo áp lực lớn, dù về trung và dài hạn vẫn là yếu tố cần được theo dõi, đặc biệt trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng cao kéo dài. Trên tổng thể, ngành ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trụ cột, nhưng dư địa bứt phá mạnh như giai đoạn lãi suất thấp trước đây được đánh giá là không còn quá rộng mở.

Điều này cho thấy bước sang năm 2026, ngành ngân hàng nhiều khả năng bước vào giai đoạn sàng lọc rõ nét hơn, khi vị thế dẫn dắt thị trường không còn mang tính đồng đều mà phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng tăng trưởng của từng ngân hàng./.

Thu Hương

Đọc thêm

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

(TBTCO) - Bảo hiểm BIDV (BIC) dự kiến chi khoảng 242,48 tỷ đồng trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt, tỷ lệ 12%, tương đương 1.200 đồng/cổ phần, ngày đăng ký cuối cùng 8/10/2026.
Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.661 USD/ounce sau khi tăng hơn 15% trong một tháng. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn tiếp tục đi lên, có nơi đạt 154 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, vượt 4.650 USD/ounce. Trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục nhích tăng sau phiên tăng mạnh hôm qua, với vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng.
Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

(TBTCO) - Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 50% và gần 30 triệu cổ phiếu cho người lao động, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 106.600 tỷ đồng. Phương án mới điều chỉnh đáng kể so với kế hoạch trước, trong bối cảnh tín dụng của ngân hàng tăng mạnh và tiến sát hạn mức theo kịch bản đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông.
Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

(TBTCO) - Tiếp và làm việc với đoàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Bảo hiểm FWD, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế uy tín như FWD đầu tư lâu dài, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vừa có thêm hai gương mặt mới là VietSure Insurance (VSI) và ACB Insurance, nâng tổng số doanh nghiệp trong khối lên con số 34. Được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành bảo hiểm phi nhân thọ đang trở thành điểm đến hấp dẫn với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Hà Nội - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Miền Tây - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,200 ▼300K 150,200 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,730 ▼30K 15,030 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,730 ▼30K 15,030 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,730 ▼30K 15,030 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▼150K 15,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▼150K 15,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▼150K 15,150 ▼150K
NL 99.99 14,200 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼50K
Trang sức 99.9 14,460 ▼150K 15,060 ▼150K
Trang sức 99.99 14,470 ▼150K 15,070 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,473 ▼3K 15,032 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,473 ▼3K 15,033 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,468 ▼3K 1,498 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,468 ▼3K 1,499 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,443 ▼3K 1,488 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,327 ▼297K 147,327 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,961 ▼225K 111,761 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,544 ▼204K 101,344 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,127 ▲72996K 90,927 ▲81816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,109 ▼175K 86,909 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,406 ▼125K 62,206 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 ▼3K 1,503 ▼3K
Cập nhật: 26/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18206 18481 19058
CAD 18289 18565 19182
CHF 31799 32180 32833
CNY 0 3841 3937
EUR 29805 30027 31110
GBP 34744 35137 36075
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15226 15817
SGD 20004 20286 20866
THB 712 775 828
USD (1,2) 25838 0 0
USD (5,10,20) 25878 0 0
USD (50,100) 25906 25920 26290
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,900 25,900 26,280
USD(1-2-5) 24,864 - -
USD(10-20) 24,864 - -
EUR 29,858 29,882 31,298
JPY 159.61 159.9 169.57
GBP 34,931 35,026 36,236
AUD 18,397 18,463 19,162
CAD 18,471 18,530 19,214
CHF 32,086 32,186 33,136
SGD 20,122 20,185 20,974
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 17.38 18.13 19.72
THB 759.53 768.91 823.52
NZD 15,208 15,349 15,801
SEK - 2,704 2,799
DKK - 4,004 4,146
NOK - 2,744 2,844
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,057.25 - 6,841.77
TWD 740.64 - 897.27
SAR - 6,829.72 7,193.83
KWD - 82,738 88,035
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,867 29,987 31,184
GBP 34,929 35,069 36,107
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,906 32,034 32,970
JPY 159.94 160.58 168.56
AUD 18,378 18,452 19,048
SGD 20,180 20,261 20,859
THB 777 780 817
CAD 18,473 18,547 19,139
NZD 15,261 15,808
KRW 18.02 20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26280
AUD 18392 18492 19417
CAD 18474 18574 19585
CHF 32074 32104 33687
CNY 3823.6 3848.6 3983.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30004 30034 31760
GBP 35071 35121 36878
HKD 0 3330 0
JPY 160.67 161.17 171.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15342 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20174 20304 21027
THB 0 741.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14750000 14750000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,940 25,940 26,300
USD20 25,890 25,940 26,841
USD1 25,840 25,940 26,891
AUD 18,418 18,518 19,630
EUR 29,818 29,918 31,579
CAD 18,455 18,555 19,862
SGD 20,266 20,416 21,671
JPY 161.05 162.55 168.09
GBP 35,022 35,172 36,436
XAU 14,758,000 0 15,062,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/08/2026 20:30
Ngân hàng