Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuộc đua lãi suất huy động trước Tết đang nóng lên rõ rệt khi có tới 30 ngân hàng tăng lãi suất từ đầu tháng 12 đến nay, đưa lãi suất tiệm cận 8%/năm. Diễn biến này kéo theo áp lực gia tăng chi phí vay, đồng thời cũng khiến người dân phải cân nhắc lại kênh đầu tư cuối năm.
aa

Lãi suất chạm 8%, dòng tiền từ dân cư đứng trước ngã rẽ

Bức tranh lãi suất huy động tháng cuối năm có sự chuyển biến đầy bất ngờ so với tháng trước. "Cuộc đua" lãi suất nóng nhất diễn ra ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, với nhiều ưu đãi cho khách hàng ưu tiên, chỉ cần gửi số tiền 1 tỷ đồng là lãi suất tiền gửi đã chạm mốc 7,5 - 8%/năm. Ở các nhà băng khác, dù lãi suất niêm yết thấp hơn, nhưng nhờ cộng gộp các chương trình, thưởng tiền mặt, mức thực nhận cũng vượt 7%/năm. Lãi suất 8% tuy chưa phổ biến rộng khắp, nhưng trở thành tín hiệu mạnh mẽ buộc người cầm tiền phải tính toán lại bài toán đầu tư cuối năm.

Đặt lên bàn cân so sánh, nhìn sang một số kênh đầu tư khác, có thể thấy bức tranh ảm đạm hơn. Đơn cử, trên thị trường bất động sản, đặc biệt ở phân khúc đầu tư “lướt sóng” và mua nhà dự án, khó khăn ngày càng lộ rõ khi thanh khoản suy giảm mạnh. Cùng với đó, lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng đã nhích lên, trong khi các gói tín dụng ưu đãi, đặc biệt dành cho người trẻ dưới 35 tuổi vay mua nhà sớm dừng triển khai, chủ yếu do chi phí vốn ngày càng gia tăng, khiến dư địa hỗ trợ của các ngân hàng bị thu hẹp.

Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong
Hiện nhiều ngân hàng nhỏ nâng mức lãi suất lên tới 7,5 - 8%/năm, áp dụng cho số tiền trên 1 tỷ đồng. Ảnh: Đức Thanh

Với các dự án, mức chiết khấu 10 - 15% nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng phần lớn đã được "kê" sẵn trong giá. Một số ý kiến cho rằng, xuống tiền lúc này đồng nghĩa với "chôn" vốn dài hạn, trong khi cùng số tiền đó, gửi ngân hàng lại sinh lời đều đặn từng ngày. Đó là chưa kể rủi ro chính sách bán hàng thay đổi, chủ đầu tư cắt ưu đãi vay, khiến người mua càng thêm bị động.

Câu hỏi "mua vàng hay gửi tiết kiệm" cũng xuất hiện ngày càng nhiều trên các diễn đàn. Thực tế, sức hấp dẫn của vàng là không thể phủ nhận, khi có thời điểm giá vàng tăng phi mã tới 70% trong năm, khiến dòng người rồng rắn xếp hàng để mua vào. Thế nhưng, bức tranh 2 tháng gần đây đã thay đổi, giá vàng chịu sức ép lớn và liên tục biến động từ vùng đỉnh, khiến tâm lý nhà đầu tư e dè hơn.

Chị Linh Thiệp (Lào Cai) cho biết, đầu tư vàng không biết là lời hay lỗ, nhưng lúc nào cũng phải theo dõi biểu đồ giá và tin tức thế giới. Khi giá giảm vài ngày, tâm trạng đi xuống, ảnh hưởng tới công việc.

Chị Nguyễn Thu Thuỳ (Hà Nội) lại băn khoăn, giá vàng hiện nay đã tăng rất mạnh, điều hiếm thấy trong lịch sử nên nhiều người đang tính chốt lời dần.

Lãi suất huy động tăng mạnh, chi phí vay “đội” nhanh hơn.

Khảo sát biểu lãi suất huy động niêm yết tại gần 50 ngân hàng vào ngày 25/12 cho thấy, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng được nhiều nhà băng tiếp tục điều chỉnh tăng mạnh so với đầu tháng 12 và đồng loạt chạm mức trần 4,75%/năm. Đây là mức lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Trong nhóm tăng mạnh nhất, PGBank, PVcomBank và Sacombank đều tăng lãi suất dồn dập 0,95 điểm phần trăm trong chưa đầy 1 tháng, lên 4,75%/năm. Bên cạnh đó, có một số ngân hàng không ghi nhận biến động, như VIB, MBV, CIMB, bởi nhóm này đã sớm chạm trần từ trước đó và không thể điều chỉnh thêm.

Áp lực tăng lãi suất và bài toán huy động vốn năm 2026

"Nếu chỉ dựa vào huy động để mở rộng cho vay, thì các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất và với người đi vay, đây sẽ là vấn đề. Trong khi đó, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng vẫn tiếp tục tăng trên toàn ngành. Trường hợp tiền gửi huy động tăng, nhưng vẫn thiếu so với nhu cầu cho vay, các ngân hàng sẽ phải bổ sung nguồn vốn, dự kiến tập trung trong năm 2026 gồm: vốn chủ sở hữu và tăng cường phát hành trái phiếu".

Chuyên gia Nguyễn Minh Tuấn - CEO của AFA Capital

Kỳ hạn 6 tháng, vốn được người gửi tiền ưu tiên lựa chọn, đang trở thành điểm "nóng" sôi động nhất trong "cuộc đua" lãi suất tháng cuối năm. So với đầu tháng 12, có tới 30 ngân hàng đồng loạt nâng lãi suất lên mức hấp dẫn hơn đáng kể nhằm tăng tính cạnh tranh.

Nổi bật nhất là PGBank khi tăng lãi suất mạnh nhất thị trường với 1,8 điểm phần trăm chỉ trong 1 tháng, lên 6,8%/năm. Nhóm điều chỉnh tròn 1 điểm phần trăm gồm: OCB (đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 6,2%/năm) và ACB (lên 4,5%/năm).

Đáng chú ý, "big 4" cũng đồng loạt dâng lãi suất, dù mức tăng thấp hơn mặt bằng chung. Trong đó, Vietcombank tăng lãi suất mạnh nhất ở kỳ hạn 6 tháng thêm 0,6 điểm phần trăm, lên 3,5%/năm. VietinBank và BIDV cùng tăng 0,5 điểm phần trăm, lên 3,5%/năm. Riêng Agribank có biên độ tăng thấp hơn, nhưng đẩy lãi suất lên cao nhất nhóm, ở mức 3,8%/năm.

Theo đánh giá của chuyên gia Công ty cổ phần Đầu tư AFA Capital, việc nhóm "big 4" đồng loạt tăng lãi suất huy động vào giữa tháng 12/2025 phát đi tín hiệu về mặt bằng chi phí vốn mới. Rủi ro lớn với người đi vay lúc này không chỉ nằm ở việc lãi suất tăng, mà nằm ở sự nhầm lẫn giữa "điểm phần trăm" và "phần trăm" tăng chi phí thực tế có thể khiến dòng tiền bị bào mòn nhanh hơn dự tính.

Theo chuyên gia của AFA Capital, trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) của nhiều ngân hàng đang mỏng, việc chi phí vốn đầu vào tăng buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Các hợp đồng vay vốn thả nổi, đặc biệt là vay mua nhà, vay kinh doanh sớm chịu tác động của đợt điều chỉnh này. Mức tăng có thể chỉ là 1 - 2 điểm phần trăm trên thông báo, nhưng sẽ là hàng chục phần trăm áp lực lên dòng tiền hàng tháng.

Giả sử, với dư nợ 10 tỷ đồng, lãi suất 8%/năm, trước đây, chi phí lãi vay khoảng 800 triệu đồng/năm. Khi lãi suất tăng lên 10%/năm, chi phí lãi vay đội lên 1 tỷ đồng, tức phải chi thêm 200 triệu đồng/năm, tương đương tăng 25% lãi vay, dù lãi suất danh nghĩa chỉ tăng thêm 2 điểm phần trăm.

Tăng lãi suất OMO phát tín hiệu cho lãi suất huy động nhích lên

Theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, từ đầu tháng 10/2025, áp lực thanh khoản trong hệ thống gia tăng rõ rệt, thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng từ mức bình quân khoảng 4% lên vùng 6 - 7%.

Căng thẳng thanh khoản chưa hạ nhiệt. Sau khi giảm sâu vào tuần trước, lãi suất liên ngân hàng lại bật tăng. Theo đó, kỳ hạn qua đêm ngày 23/12 tăng lên 6,44%, tăng 0,77 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng cao nhất, lên 7,69%, tức tăng tới 1,13 điểm phần trăm.

Theo đánh giá của Chứng khoán Vietcap diễn biến tăng lãi suất cuối năm xuất phát từ 3 yếu tố chính. Thứ nhất, là yếu tố mùa vụ, khi nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào giai đoạn cuối năm. Thứ hai, là khoảng cách ngày càng lớn giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn. Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng đạt 16,56% tính đến cuối tháng 11, nhiều ngân hàng đã gần chạm hạn mức tăng trưởng tín dụng, rất ít ngân hàng còn dư địa cho vay. Thứ ba, áp lực tỷ giá vẫn còn hiện hữu và chưa hoàn toàn được giải tỏa.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng linh hoạt kênh thị trường mở (OMO) để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống và gần đây, triển khai thêm nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX swap) kỳ hạn 14 ngày như một công cụ bổ sung nhằm giảm áp lực thanh khoản trong ngắn hạn. Đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng nâng lãi suất cho vay trên kênh thị trường mở từ mức 4% lên 4,5%.

"Theo quan điểm của chúng tôi, việc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất OMO phát đi tín hiệu rằng, các ngân hàng thương mại có thể điều chỉnh tăng lãi suất huy động" - Vietcap nhận định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Generali Việt Nam vừa được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026 - Golden Dragon Awards 2026, với danh hiệu “Tiên phong trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm” (Pioneer in Innovation of Insurance Products).
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,080 ▲30K 16,380 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,030 ▲130K 15,230 ▲130K
Nguyên Liệu 99.9 14,980 ▲130K 15,180 ▲130K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Hà Nội - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Miền Tây - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,613 ▲8K 16,382 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,613 ▲8K 16,383 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Cập nhật: 18/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18321 18597 19172
CAD 18643 18921 19536
CHF 32901 33286 33921
CNY 0 3835 3927
EUR 30036 30309 31334
GBP 34422 34814 35744
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15126 15710
SGD 20051 20334 20856
THB 722 786 839
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,217 30,241 31,527
JPY 161.77 162.06 170.99
GBP 34,633 34,727 35,755
AUD 18,523 18,590 19,196
CAD 18,861 18,922 19,523
CHF 33,212 33,315 34,122
SGD 20,213 20,276 20,969
CNY - 3,808 3,934
HKD 3,307 3,317 3,438
KRW 16.25 16.95 18.35
THB 771.48 781.01 831.98
NZD 15,107 15,247 15,622
SEK - 2,755 2,838
DKK - 4,043 4,165
NOK - 2,794 2,878
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.3 - 6,978.47
TWD 754.84 - 909.85
SAR - 6,921.01 7,253.04
KWD - 83,808 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26387
AUD 18508 18608 19531
CAD 18826 18926 19940
CHF 33146 33176 34759
CNY 3816 3841 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30216 30246 31969
GBP 34718 34768 36521
HKD 0 3355 0
JPY 162.31 162.81 173.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15237 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20210 20340 21071
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,188 26,238 26,387
USD20 26,188 26,238 26,387
USD1 26,188 26,238 26,387
AUD 18,530 18,630 19,735
EUR 30,365 30,365 31,774
CAD 18,775 18,875 20,183
SGD 20,289 20,439 20,998
JPY 162.86 164.36 168.93
GBP 34,577 34,927 35,789
XAU 16,048,000 0 16,352,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80