Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuộc đua lãi suất huy động trước Tết đang nóng lên rõ rệt khi có tới 30 ngân hàng tăng lãi suất từ đầu tháng 12 đến nay, đưa lãi suất tiệm cận 8%/năm. Diễn biến này kéo theo áp lực gia tăng chi phí vay, đồng thời cũng khiến người dân phải cân nhắc lại kênh đầu tư cuối năm.
aa

Lãi suất chạm 8%, dòng tiền từ dân cư đứng trước ngã rẽ

Bức tranh lãi suất huy động tháng cuối năm có sự chuyển biến đầy bất ngờ so với tháng trước. "Cuộc đua" lãi suất nóng nhất diễn ra ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, với nhiều ưu đãi cho khách hàng ưu tiên, chỉ cần gửi số tiền 1 tỷ đồng là lãi suất tiền gửi đã chạm mốc 7,5 - 8%/năm. Ở các nhà băng khác, dù lãi suất niêm yết thấp hơn, nhưng nhờ cộng gộp các chương trình, thưởng tiền mặt, mức thực nhận cũng vượt 7%/năm. Lãi suất 8% tuy chưa phổ biến rộng khắp, nhưng trở thành tín hiệu mạnh mẽ buộc người cầm tiền phải tính toán lại bài toán đầu tư cuối năm.

Đặt lên bàn cân so sánh, nhìn sang một số kênh đầu tư khác, có thể thấy bức tranh ảm đạm hơn. Đơn cử, trên thị trường bất động sản, đặc biệt ở phân khúc đầu tư “lướt sóng” và mua nhà dự án, khó khăn ngày càng lộ rõ khi thanh khoản suy giảm mạnh. Cùng với đó, lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng đã nhích lên, trong khi các gói tín dụng ưu đãi, đặc biệt dành cho người trẻ dưới 35 tuổi vay mua nhà sớm dừng triển khai, chủ yếu do chi phí vốn ngày càng gia tăng, khiến dư địa hỗ trợ của các ngân hàng bị thu hẹp.

Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong
Hiện nhiều ngân hàng nhỏ nâng mức lãi suất lên tới 7,5 - 8%/năm, áp dụng cho số tiền trên 1 tỷ đồng. Ảnh: Đức Thanh

Với các dự án, mức chiết khấu 10 - 15% nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng phần lớn đã được "kê" sẵn trong giá. Một số ý kiến cho rằng, xuống tiền lúc này đồng nghĩa với "chôn" vốn dài hạn, trong khi cùng số tiền đó, gửi ngân hàng lại sinh lời đều đặn từng ngày. Đó là chưa kể rủi ro chính sách bán hàng thay đổi, chủ đầu tư cắt ưu đãi vay, khiến người mua càng thêm bị động.

Câu hỏi "mua vàng hay gửi tiết kiệm" cũng xuất hiện ngày càng nhiều trên các diễn đàn. Thực tế, sức hấp dẫn của vàng là không thể phủ nhận, khi có thời điểm giá vàng tăng phi mã tới 70% trong năm, khiến dòng người rồng rắn xếp hàng để mua vào. Thế nhưng, bức tranh 2 tháng gần đây đã thay đổi, giá vàng chịu sức ép lớn và liên tục biến động từ vùng đỉnh, khiến tâm lý nhà đầu tư e dè hơn.

Chị Linh Thiệp (Lào Cai) cho biết, đầu tư vàng không biết là lời hay lỗ, nhưng lúc nào cũng phải theo dõi biểu đồ giá và tin tức thế giới. Khi giá giảm vài ngày, tâm trạng đi xuống, ảnh hưởng tới công việc.

Chị Nguyễn Thu Thuỳ (Hà Nội) lại băn khoăn, giá vàng hiện nay đã tăng rất mạnh, điều hiếm thấy trong lịch sử nên nhiều người đang tính chốt lời dần.

Lãi suất huy động tăng mạnh, chi phí vay “đội” nhanh hơn.

Khảo sát biểu lãi suất huy động niêm yết tại gần 50 ngân hàng vào ngày 25/12 cho thấy, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng được nhiều nhà băng tiếp tục điều chỉnh tăng mạnh so với đầu tháng 12 và đồng loạt chạm mức trần 4,75%/năm. Đây là mức lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Trong nhóm tăng mạnh nhất, PGBank, PVcomBank và Sacombank đều tăng lãi suất dồn dập 0,95 điểm phần trăm trong chưa đầy 1 tháng, lên 4,75%/năm. Bên cạnh đó, có một số ngân hàng không ghi nhận biến động, như VIB, MBV, CIMB, bởi nhóm này đã sớm chạm trần từ trước đó và không thể điều chỉnh thêm.

Áp lực tăng lãi suất và bài toán huy động vốn năm 2026

"Nếu chỉ dựa vào huy động để mở rộng cho vay, thì các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất và với người đi vay, đây sẽ là vấn đề. Trong khi đó, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng vẫn tiếp tục tăng trên toàn ngành. Trường hợp tiền gửi huy động tăng, nhưng vẫn thiếu so với nhu cầu cho vay, các ngân hàng sẽ phải bổ sung nguồn vốn, dự kiến tập trung trong năm 2026 gồm: vốn chủ sở hữu và tăng cường phát hành trái phiếu".

Chuyên gia Nguyễn Minh Tuấn - CEO của AFA Capital

Kỳ hạn 6 tháng, vốn được người gửi tiền ưu tiên lựa chọn, đang trở thành điểm "nóng" sôi động nhất trong "cuộc đua" lãi suất tháng cuối năm. So với đầu tháng 12, có tới 30 ngân hàng đồng loạt nâng lãi suất lên mức hấp dẫn hơn đáng kể nhằm tăng tính cạnh tranh.

Nổi bật nhất là PGBank khi tăng lãi suất mạnh nhất thị trường với 1,8 điểm phần trăm chỉ trong 1 tháng, lên 6,8%/năm. Nhóm điều chỉnh tròn 1 điểm phần trăm gồm: OCB (đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 6,2%/năm) và ACB (lên 4,5%/năm).

Đáng chú ý, "big 4" cũng đồng loạt dâng lãi suất, dù mức tăng thấp hơn mặt bằng chung. Trong đó, Vietcombank tăng lãi suất mạnh nhất ở kỳ hạn 6 tháng thêm 0,6 điểm phần trăm, lên 3,5%/năm. VietinBank và BIDV cùng tăng 0,5 điểm phần trăm, lên 3,5%/năm. Riêng Agribank có biên độ tăng thấp hơn, nhưng đẩy lãi suất lên cao nhất nhóm, ở mức 3,8%/năm.

Theo đánh giá của chuyên gia Công ty cổ phần Đầu tư AFA Capital, việc nhóm "big 4" đồng loạt tăng lãi suất huy động vào giữa tháng 12/2025 phát đi tín hiệu về mặt bằng chi phí vốn mới. Rủi ro lớn với người đi vay lúc này không chỉ nằm ở việc lãi suất tăng, mà nằm ở sự nhầm lẫn giữa "điểm phần trăm" và "phần trăm" tăng chi phí thực tế có thể khiến dòng tiền bị bào mòn nhanh hơn dự tính.

Theo chuyên gia của AFA Capital, trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) của nhiều ngân hàng đang mỏng, việc chi phí vốn đầu vào tăng buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Các hợp đồng vay vốn thả nổi, đặc biệt là vay mua nhà, vay kinh doanh sớm chịu tác động của đợt điều chỉnh này. Mức tăng có thể chỉ là 1 - 2 điểm phần trăm trên thông báo, nhưng sẽ là hàng chục phần trăm áp lực lên dòng tiền hàng tháng.

Giả sử, với dư nợ 10 tỷ đồng, lãi suất 8%/năm, trước đây, chi phí lãi vay khoảng 800 triệu đồng/năm. Khi lãi suất tăng lên 10%/năm, chi phí lãi vay đội lên 1 tỷ đồng, tức phải chi thêm 200 triệu đồng/năm, tương đương tăng 25% lãi vay, dù lãi suất danh nghĩa chỉ tăng thêm 2 điểm phần trăm.

Tăng lãi suất OMO phát tín hiệu cho lãi suất huy động nhích lên

Theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, từ đầu tháng 10/2025, áp lực thanh khoản trong hệ thống gia tăng rõ rệt, thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng từ mức bình quân khoảng 4% lên vùng 6 - 7%.

Căng thẳng thanh khoản chưa hạ nhiệt. Sau khi giảm sâu vào tuần trước, lãi suất liên ngân hàng lại bật tăng. Theo đó, kỳ hạn qua đêm ngày 23/12 tăng lên 6,44%, tăng 0,77 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng cao nhất, lên 7,69%, tức tăng tới 1,13 điểm phần trăm.

Theo đánh giá của Chứng khoán Vietcap diễn biến tăng lãi suất cuối năm xuất phát từ 3 yếu tố chính. Thứ nhất, là yếu tố mùa vụ, khi nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào giai đoạn cuối năm. Thứ hai, là khoảng cách ngày càng lớn giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn. Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng đạt 16,56% tính đến cuối tháng 11, nhiều ngân hàng đã gần chạm hạn mức tăng trưởng tín dụng, rất ít ngân hàng còn dư địa cho vay. Thứ ba, áp lực tỷ giá vẫn còn hiện hữu và chưa hoàn toàn được giải tỏa.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng linh hoạt kênh thị trường mở (OMO) để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống và gần đây, triển khai thêm nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX swap) kỳ hạn 14 ngày như một công cụ bổ sung nhằm giảm áp lực thanh khoản trong ngắn hạn. Đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng nâng lãi suất cho vay trên kênh thị trường mở từ mức 4% lên 4,5%.

"Theo quan điểm của chúng tôi, việc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất OMO phát đi tín hiệu rằng, các ngân hàng thương mại có thể điều chỉnh tăng lãi suất huy động" - Vietcap nhận định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

(TBTCO) - Để tài sản số thực sự trở thành nguồn lực cho nền kinh tế, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý, phân loại tài sản theo đúng bản chất, đồng thời chuẩn hóa tài sản cơ sở, dữ liệu và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Đây là những nội dung được bà Nguyễn Vân Hiền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Bảo Việt dành 1 tỷ đồng trao học bổng “Bảo Việt - Vì tương lai Việt” cho sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân năm học 2026 - 2027

Bảo Việt dành 1 tỷ đồng trao học bổng “Bảo Việt - Vì tương lai Việt” cho sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân năm học 2026 - 2027

(TBTCO) - Ngày 05/9/2026, tiếp nối truyền thống đồng hành cùng thế hệ trẻ Việt Nam, Tập đoàn Bảo Việt tiến hành trao học bổng thường niên cho sinh viên xuất sắc năm học 2026 - 2027 của Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), Hà Nội.
Bảo Việt hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp, Cao Bằng

Bảo Việt hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp, Cao Bằng

(TBTCO) - Hướng tới cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em vùng khó khăn, Tập đoàn Bảo Việt, Bảo Việt Nhân thọ hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp tại xã Đoài Dương, tỉnh Cao Bằng. Công trình không chỉ góp phần mang đến môi trường học tập khang trang, an toàn cho trẻ em vùng biên, mà còn nối dài chuỗi hoạt động đồng hành cùng thế hệ trẻ được Bảo Việt triển khai trên cả nước.
Nguồn thu bảo hiểm tăng, ngân hàng đua nhau sở hữu “mảnh ghép” đắt giá

Nguồn thu bảo hiểm tăng, ngân hàng đua nhau sở hữu “mảnh ghép” đắt giá

(TBTCO) - Nguồn thu bảo hiểm khởi sắc trong nửa đầu năm, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhiều ngân hàng đầu tư, thành lập công ty bảo hiểm riêng để hoàn thiện “mảnh ghép” hệ sinh thái và mở rộng nguồn thu ngoài lãi, bên cạnh kênh hợp tác phân phối truyền thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,400
Hà Nội - PNJ 143,000 146,400
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,400
Miền Tây - PNJ 143,000 146,400
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,400
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 14,650
Miếng SJC Nghệ An 14,350 14,650
Miếng SJC Thái Bình 14,350 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 14,010 14,610
Trang sức 99.99 14,020 14,620
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 14,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 14,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cập nhật: 08/09/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18245 18521 19097
CAD 18296 18572 19194
CHF 31522 31902 32546
CNY 0 3834 3931
EUR 29612 29834 30915
GBP 34425 34816 35749
HKD 0 3188 3390
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14992 15580
SGD 20011 20294 20865
THB 706 770 823
USD (1,2) 25756 0 0
USD (5,10,20) 25795 0 0
USD (50,100) 25823 25837 26207
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,865 25,865 26,245
USD(1-2-5) 24,831 - -
USD(10-20) 24,831 - -
EUR 29,685 29,709 31,115
JPY 163.03 163.32 173.17
GBP 34,610 34,704 35,917
AUD 18,464 18,531 19,233
CAD 18,486 18,545 19,230
CHF 31,765 31,864 32,814
SGD 20,142 20,205 21,006
CNY - 3,808 3,953
HKD 3,256 3,266 3,403
KRW 17.85 18.61 20.26
THB 755.74 765.07 818.92
NZD 14,983 15,122 15,571
SEK - 2,670 2,765
DKK - 3,982 4,122
NOK - 2,756 2,857
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.68 - 6,792.11
TWD 745.38 - 903.03
SAR - 6,819.59 7,183.68
KWD - 82,626 87,918
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,717 29,836 31,030
GBP 34,607 34,746 35,778
HKD 3,256 3,269 3,385
CHF 31,641 31,768 32,693
JPY 163.05 163.70 171.66
AUD 18,435 18,509 19,106
SGD 20,216 20,297 20,894
THB 772 775 812
CAD 18,501 18,575 19,169
NZD 15,073 15,618
KRW 18.64 20.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25840 25840 26200
AUD 18425 18525 19456
CAD 18470 18570 19582
CHF 31754 31784 33374
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29784 29814 31537
GBP 34709 34759 36527
HKD 0 3330 0
JPY 164.88 165.38 175.93
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.6 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15099 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 736.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 08/09/2026 06:00
Ngân hàng