Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuộc đua lãi suất huy động trước Tết đang nóng lên rõ rệt khi có tới 30 ngân hàng tăng lãi suất từ đầu tháng 12 đến nay, đưa lãi suất tiệm cận 8%/năm. Diễn biến này kéo theo áp lực gia tăng chi phí vay, đồng thời cũng khiến người dân phải cân nhắc lại kênh đầu tư cuối năm.
aa

Lãi suất chạm 8%, dòng tiền từ dân cư đứng trước ngã rẽ

Bức tranh lãi suất huy động tháng cuối năm có sự chuyển biến đầy bất ngờ so với tháng trước. "Cuộc đua" lãi suất nóng nhất diễn ra ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, với nhiều ưu đãi cho khách hàng ưu tiên, chỉ cần gửi số tiền 1 tỷ đồng là lãi suất tiền gửi đã chạm mốc 7,5 - 8%/năm. Ở các nhà băng khác, dù lãi suất niêm yết thấp hơn, nhưng nhờ cộng gộp các chương trình, thưởng tiền mặt, mức thực nhận cũng vượt 7%/năm. Lãi suất 8% tuy chưa phổ biến rộng khắp, nhưng trở thành tín hiệu mạnh mẽ buộc người cầm tiền phải tính toán lại bài toán đầu tư cuối năm.

Đặt lên bàn cân so sánh, nhìn sang một số kênh đầu tư khác, có thể thấy bức tranh ảm đạm hơn. Đơn cử, trên thị trường bất động sản, đặc biệt ở phân khúc đầu tư “lướt sóng” và mua nhà dự án, khó khăn ngày càng lộ rõ khi thanh khoản suy giảm mạnh. Cùng với đó, lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng đã nhích lên, trong khi các gói tín dụng ưu đãi, đặc biệt dành cho người trẻ dưới 35 tuổi vay mua nhà sớm dừng triển khai, chủ yếu do chi phí vốn ngày càng gia tăng, khiến dư địa hỗ trợ của các ngân hàng bị thu hẹp.

Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong
Hiện nhiều ngân hàng nhỏ nâng mức lãi suất lên tới 7,5 - 8%/năm, áp dụng cho số tiền trên 1 tỷ đồng. Ảnh: Đức Thanh

Với các dự án, mức chiết khấu 10 - 15% nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng phần lớn đã được "kê" sẵn trong giá. Một số ý kiến cho rằng, xuống tiền lúc này đồng nghĩa với "chôn" vốn dài hạn, trong khi cùng số tiền đó, gửi ngân hàng lại sinh lời đều đặn từng ngày. Đó là chưa kể rủi ro chính sách bán hàng thay đổi, chủ đầu tư cắt ưu đãi vay, khiến người mua càng thêm bị động.

Câu hỏi "mua vàng hay gửi tiết kiệm" cũng xuất hiện ngày càng nhiều trên các diễn đàn. Thực tế, sức hấp dẫn của vàng là không thể phủ nhận, khi có thời điểm giá vàng tăng phi mã tới 70% trong năm, khiến dòng người rồng rắn xếp hàng để mua vào. Thế nhưng, bức tranh 2 tháng gần đây đã thay đổi, giá vàng chịu sức ép lớn và liên tục biến động từ vùng đỉnh, khiến tâm lý nhà đầu tư e dè hơn.

Chị Linh Thiệp (Lào Cai) cho biết, đầu tư vàng không biết là lời hay lỗ, nhưng lúc nào cũng phải theo dõi biểu đồ giá và tin tức thế giới. Khi giá giảm vài ngày, tâm trạng đi xuống, ảnh hưởng tới công việc.

Chị Nguyễn Thu Thuỳ (Hà Nội) lại băn khoăn, giá vàng hiện nay đã tăng rất mạnh, điều hiếm thấy trong lịch sử nên nhiều người đang tính chốt lời dần.

Lãi suất huy động tăng mạnh, chi phí vay “đội” nhanh hơn.

Khảo sát biểu lãi suất huy động niêm yết tại gần 50 ngân hàng vào ngày 25/12 cho thấy, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng được nhiều nhà băng tiếp tục điều chỉnh tăng mạnh so với đầu tháng 12 và đồng loạt chạm mức trần 4,75%/năm. Đây là mức lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Trong nhóm tăng mạnh nhất, PGBank, PVcomBank và Sacombank đều tăng lãi suất dồn dập 0,95 điểm phần trăm trong chưa đầy 1 tháng, lên 4,75%/năm. Bên cạnh đó, có một số ngân hàng không ghi nhận biến động, như VIB, MBV, CIMB, bởi nhóm này đã sớm chạm trần từ trước đó và không thể điều chỉnh thêm.

Áp lực tăng lãi suất và bài toán huy động vốn năm 2026

"Nếu chỉ dựa vào huy động để mở rộng cho vay, thì các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất và với người đi vay, đây sẽ là vấn đề. Trong khi đó, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng vẫn tiếp tục tăng trên toàn ngành. Trường hợp tiền gửi huy động tăng, nhưng vẫn thiếu so với nhu cầu cho vay, các ngân hàng sẽ phải bổ sung nguồn vốn, dự kiến tập trung trong năm 2026 gồm: vốn chủ sở hữu và tăng cường phát hành trái phiếu".

Chuyên gia Nguyễn Minh Tuấn - CEO của AFA Capital

Kỳ hạn 6 tháng, vốn được người gửi tiền ưu tiên lựa chọn, đang trở thành điểm "nóng" sôi động nhất trong "cuộc đua" lãi suất tháng cuối năm. So với đầu tháng 12, có tới 30 ngân hàng đồng loạt nâng lãi suất lên mức hấp dẫn hơn đáng kể nhằm tăng tính cạnh tranh.

Nổi bật nhất là PGBank khi tăng lãi suất mạnh nhất thị trường với 1,8 điểm phần trăm chỉ trong 1 tháng, lên 6,8%/năm. Nhóm điều chỉnh tròn 1 điểm phần trăm gồm: OCB (đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 6,2%/năm) và ACB (lên 4,5%/năm).

Đáng chú ý, "big 4" cũng đồng loạt dâng lãi suất, dù mức tăng thấp hơn mặt bằng chung. Trong đó, Vietcombank tăng lãi suất mạnh nhất ở kỳ hạn 6 tháng thêm 0,6 điểm phần trăm, lên 3,5%/năm. VietinBank và BIDV cùng tăng 0,5 điểm phần trăm, lên 3,5%/năm. Riêng Agribank có biên độ tăng thấp hơn, nhưng đẩy lãi suất lên cao nhất nhóm, ở mức 3,8%/năm.

Theo đánh giá của chuyên gia Công ty cổ phần Đầu tư AFA Capital, việc nhóm "big 4" đồng loạt tăng lãi suất huy động vào giữa tháng 12/2025 phát đi tín hiệu về mặt bằng chi phí vốn mới. Rủi ro lớn với người đi vay lúc này không chỉ nằm ở việc lãi suất tăng, mà nằm ở sự nhầm lẫn giữa "điểm phần trăm" và "phần trăm" tăng chi phí thực tế có thể khiến dòng tiền bị bào mòn nhanh hơn dự tính.

Theo chuyên gia của AFA Capital, trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) của nhiều ngân hàng đang mỏng, việc chi phí vốn đầu vào tăng buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Các hợp đồng vay vốn thả nổi, đặc biệt là vay mua nhà, vay kinh doanh sớm chịu tác động của đợt điều chỉnh này. Mức tăng có thể chỉ là 1 - 2 điểm phần trăm trên thông báo, nhưng sẽ là hàng chục phần trăm áp lực lên dòng tiền hàng tháng.

Giả sử, với dư nợ 10 tỷ đồng, lãi suất 8%/năm, trước đây, chi phí lãi vay khoảng 800 triệu đồng/năm. Khi lãi suất tăng lên 10%/năm, chi phí lãi vay đội lên 1 tỷ đồng, tức phải chi thêm 200 triệu đồng/năm, tương đương tăng 25% lãi vay, dù lãi suất danh nghĩa chỉ tăng thêm 2 điểm phần trăm.

Tăng lãi suất OMO phát tín hiệu cho lãi suất huy động nhích lên

Theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, từ đầu tháng 10/2025, áp lực thanh khoản trong hệ thống gia tăng rõ rệt, thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng từ mức bình quân khoảng 4% lên vùng 6 - 7%.

Căng thẳng thanh khoản chưa hạ nhiệt. Sau khi giảm sâu vào tuần trước, lãi suất liên ngân hàng lại bật tăng. Theo đó, kỳ hạn qua đêm ngày 23/12 tăng lên 6,44%, tăng 0,77 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng cao nhất, lên 7,69%, tức tăng tới 1,13 điểm phần trăm.

Theo đánh giá của Chứng khoán Vietcap diễn biến tăng lãi suất cuối năm xuất phát từ 3 yếu tố chính. Thứ nhất, là yếu tố mùa vụ, khi nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào giai đoạn cuối năm. Thứ hai, là khoảng cách ngày càng lớn giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn. Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng đạt 16,56% tính đến cuối tháng 11, nhiều ngân hàng đã gần chạm hạn mức tăng trưởng tín dụng, rất ít ngân hàng còn dư địa cho vay. Thứ ba, áp lực tỷ giá vẫn còn hiện hữu và chưa hoàn toàn được giải tỏa.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng linh hoạt kênh thị trường mở (OMO) để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống và gần đây, triển khai thêm nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX swap) kỳ hạn 14 ngày như một công cụ bổ sung nhằm giảm áp lực thanh khoản trong ngắn hạn. Đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng nâng lãi suất cho vay trên kênh thị trường mở từ mức 4% lên 4,5%.

"Theo quan điểm của chúng tôi, việc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất OMO phát đi tín hiệu rằng, các ngân hàng thương mại có thể điều chỉnh tăng lãi suất huy động" - Vietcap nhận định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

(TBTCO) - Loạt ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn phát tín hiệu tăng lãi suất, gia tăng sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Dù nhiều cấu phần vẫn chịu áp lực, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý II/2026 của Việt Nam vẫn thặng dư 81 triệu USD, cùng những tín hiệu tích cực gần đây mở ra kỳ vọng giảm sức ép tỷ giá, củng cố dự trữ ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

(TBTCO) - Sáng 4/11, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng, xuống 25.627 đồng; chỉ số DXY giảm 0,5% còn 101,38 điểm. Thị trường ngoại hối biến động trước tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương. Đô la Úc suy yếu dù Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất lên 4,85%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) được dự báo nâng lãi suất lên 4% vào ngày 5/11.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Thông tư mới về xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân, dự kiến thực hiện từ năm 2028 trên cơ sở số liệu kiểm toán năm 2027. Điểm mới là chuyển từ thang 100 điểm sang 4 điểm, kết hợp đánh giá định lượng và định tính, đồng thời bổ sung, điều chỉnh nhiều chỉ tiêu và trọng số đánh giá.
Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
Trang sức 99.9 13,360 ▲150K 13,960 ▲150K
Trang sức 99.99 13,370 ▲150K 13,970 ▲150K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▲18K 14,242 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▲18K 14,243 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 ▲28K 1,405 ▲28K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 ▲28K 1,406 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 ▲28K 1,395 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 ▲2772K 138,119 ▲2772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 ▲2100K 104,785 ▲2100K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 ▲1904K 95,019 ▲1904K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 ▲1709K 85,254 ▲1709K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 ▲1633K 81,487 ▲1633K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 ▲43791K 58,327 ▲52611K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cập nhật: 04/11/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17491 17764 18340
CAD 17883 18157 18776
CHF 30801 31178 31825
CNY 0 3809 3906
EUR 28289 28505 29585
GBP 33850 34240 35175
HKD 0 3146 3348
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14161 14753
SGD 19571 19852 20422
THB 679 742 796
USD (1,2) 25447 0 0
USD (5,10,20) 25484 0 0
USD (50,100) 25511 25525 25895
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,550 25,550 25,930
USD(1-2-5) 24,528 - -
USD(10-20) 24,528 - -
EUR 28,331 28,354 29,704
JPY 158.27 158.56 168.19
GBP 34,022 34,114 35,300
AUD 17,648 17,712 18,386
CAD 18,079 18,137 18,810
CHF 31,091 31,188 32,119
SGD 19,701 19,762 20,540
CNY - 3,780 3,926
HKD 3,214 3,224 3,360
KRW 17.68 18.44 20.06
THB 728.59 737.59 789.86
NZD 14,116 14,247 14,675
SEK - 2,593 2,686
DKK - 3,801 3,936
NOK - 2,732 2,830
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,912.26 - 6,675.92
TWD 708.02 - 857.89
SAR - 6,739.23 7,100.3
KWD - 81,354 86,581
AED - 6,753 7,278
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,550 25,580 25,960
EUR 28,312 28,454 29,683
GBP 33,980 34,151 35,187
HKD 3,211 3,230 3,347
CHF 30,923 31,078 32,026
JPY 157.83 159.42 167.40
AUD 17,585 17,709 18,304
SGD 19,674 19,853 20,449
THB 732 747 784
CAD 18,028 18,155 18,752
NZD 14,167 14,720
KRW 18.50 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25530 25530 25890
AUD 17683 17783 18708
CAD 18079 18179 19191
CHF 31092 31122 32703
CNY 3792.4 3817.4 3952.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28502 28532 30257
GBP 34188 34238 35996
HKD 0 3300 0
JPY 158.83 159.33 169.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14293 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19741 19871 20592
THB 0 709 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12000000 12000000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,445 25,565 25,900
USD20 25,415 25,565 25,900
USD1 25,395 25,565 25,900
AUD 17,558 17,708 18,875
EUR 28,256 28,356 30,014
CAD 18,020 18,120 19,428
SGD 19,813 19,963 20,517
JPY 159.73 161.23 166.8
GBP 34,034 34,184 35,496
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,773 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/11/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30