Agribank “xanh hóa” dòng vốn tín dụng hướng tới Net Zero

Minh Nguyệt
(TBTCO) - Là ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực trong lĩnh vực “tam nông”, Agribank đã chọn con đường đặc biệt để thực hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng hành động “xanh hóa” dòng vốn tín dụng, đưa phát triển bền vững trở thành giá trị cốt lõi trong mọi hoạt động kinh doanh, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050.
aa

Chuyển dịch dòng vốn xanh

Gắn bó máu thịt với “tam nông”, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) luôn kiên định thực hiện các chủ trương về ngân hàng xanh, tín dụng xanh và tăng trưởng bền vững, coi việc tuân thủ các chuẩn mực ESG (môi trường - xã hội - quản trị) vừa là yêu cầu chiến lược, vừa là lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh chuyển đổi xanh.

Trước thách thức biến đổi khí hậu, Agribank chủ động chuyển dịch dòng vốn từ các lĩnh vực “nâu” (thâm dụng năng lượng, gây ô nhiễm) sang các dự án, mô hình sản xuất “xanh”, thân thiện với môi trường. Đến quý II/2025, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 29.000 tỷ đồng, tăng trưởng ổn định qua từng năm; trong đó năng lượng tái tạo chiếm 53% (trên 15.000 tỷ đồng), lâm nghiệp bền vững khoảng 6.900 tỷ đồng và nông nghiệp xanh hơn 6.500 tỷ đồng.

Agribank “xanh hóa” dòng vốn tín dụng hướng tới Net Zero
Agribank tập trung cho các dự án năng lượng tái tạo, lâm nghiệp bền vững và nông nghiệp sạch

Cùng với đó, Agribank triển khai chương trình tín dụng ưu đãi “Nông nghiệp sạch vì sức khỏe cộng đồng” với quy mô tối thiểu 50.000 tỷ đồng, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp an toàn, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao. Đặc biệt, việc được Chính phủ giao cung cấp tín dụng cho Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 càng khẳng định vai trò trụ cột của Agribank trong chuyển đổi nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu.

Không chỉ là nguồn vốn ưu đãi, dòng tín dụng xanh của Agribank còn cho thấy quyết tâm phát triển nông nghiệp xanh, nông thôn xanh, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao giá trị nông sản và hướng tới một nền nông nghiệp bền vững, vì sức khỏe cộng đồng.

Chuẩn mực quản trị bền vững, nền tảng cho hành động

Song hành cùng phát triển tín dụng xanh và lan tỏa giá trị xã hội, Agribank đặc biệt chú trọng yếu tố quản trị - nền tảng cốt lõi trong bộ tiêu chí ESG. Bởi lẽ, chỉ với một hệ thống quản trị minh bạch, hiệu quả và liêm chính, thì các mục tiêu phát triển xanh, phát triển bền vững mới có thể được hiện thực hóa một cách bền vững và dài lâu.

Nhận thức rõ điều đó, Agribank đã xây dựng và triển khai quy định quản lý rủi ro môi trường - xã hội (ESMS) trong hoạt động cấp tín dụng, đồng thời đang tích hợp chặt chẽ hệ thống này vào quy trình thẩm định, xét duyệt và giám sát tín dụng. Mỗi khoản vay, mỗi dự án được xem xét không chỉ trên phương diện tài chính, mà còn trên tác động môi trường và xã hội, bảo đảm nguồn vốn được sử dụng đúng mục tiêu, tránh các hoạt động gây tổn hại đến sinh thái, cộng đồng hoặc vi phạm cam kết phát triển bền vững.

Toàn hệ thống Agribank đang đồng loạt triển khai các chương trình hành động cụ thể thúc đẩy tín dụng xanh, tiết giảm phát thải nội bộ, chuyển đổi số bền vững, lồng ghép tiêu chí ESG vào đánh giá hiệu quả công việc và thi đua khen thưởng.

Bên cạnh đó, Agribank đang chuẩn hóa hệ thống quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế tiên tiến, như Báo cáo ESG, Chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS và hướng dẫn quản trị doanh nghiệp của OECD. Các nguyên tắc về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và đạo đức nghề nghiệp được lồng ghép sâu vào văn hóa nội bộ và các quy trình vận hành. Hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập và quản lý rủi ro toàn diện được củng cố thường xuyên, giúp Agribank duy trì sự ổn định, an toàn và niềm tin của khách hàng, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập tài chính quốc tế.

Không dừng ở đó, Agribank còn đóng vai trò cầu nối trong thu hút nguồn vốn quốc tế phục vụ phát triển xanh. Ngân hàng tích cực hợp tác với các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và định chế phát triển đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Quỹ Khí hậu xanh (GCF) để huy động vốn ODA và các quỹ tài chính xanh. Các nguồn lực này đang được triển khai cho nhiều dự án ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn và hạ tầng xanh tại các địa phương trọng điểm.

Việc thu hút, quản lý và phân bổ hiệu quả các nguồn vốn quốc tế không chỉ thể hiện năng lực hội nhập và uy tín của Agribank, mà còn khẳng định tầm nhìn chiến lược của một ngân hàng nhà nước tiên phong trong thực thi cam kết Net Zero của Việt Nam. Agribank đang từng bước chuyển hóa quản trị từ mô hình truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên giá trị bền vững, nơi lợi nhuận kinh tế đi đôi với lợi ích xã hội và trách nhiệm môi trường.

Hành động vì tương lai xanh

Từ “ngân hàng của nông dân” đến “ngân hàng vì cộng đồng”, hành trình gần 4 thập kỷ của Agribank luôn gắn liền với sứ mệnh phục vụ phát triển đất nước, nâng cao đời sống người dân và bảo vệ môi trường sinh thái. Dòng vốn tín dụng mà Agribank bền bỉ đưa đến từng vùng quê, từng hộ sản xuất không chỉ là nguồn lực tài chính, mà còn là nguồn năng lượng xã hội, góp phần tạo dựng nông nghiệp thịnh vượng, nông thôn đổi mới, nông dân văn minh, 3 trụ cột căn bản của nền kinh tế xanh.

Giữ vững vai trò ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực “tam nông”, Agribank tiếp tục khẳng định vị thế tiên phong trong thực thi các tiêu chuẩn ESG, hiện thực hóa mục tiêu: Phát triển xanh - Tài chính xanh - Xã hội xanh.

Những hành động đó cho thấy sự cam kết mạnh mẽ của Agribank trong xanh hóa toàn diện hoạt động ngân hàng, từ sản phẩm dịch vụ đến quản trị vận hành. Không chỉ đồng hành cùng khách hàng và cộng đồng, Agribank còn chủ động cùng Chính phủ hiện thực hóa các cam kết quốc tế về phát triển bền vững và giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Trên hành trình ấy, trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp và giá trị nhân văn luôn được đặt ở trung tâm. Bằng hành động thiết thực, Agribank không chỉ vun đắp niềm tin của hàng chục triệu khách hàng, mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh một ngân hàng thương mại nhà nước vì con người, vì môi trường và vì tương lai xanh của Việt Nam.

Agribank hiện thân của trách nhiệm xã hội

Ngoài công cụ tài chính, dòng vốn xanh của Agribank còn mang giá trị nhân văn sâu sắc khi kiến tạo sinh kế bền vững, tạo việc làm, cải thiện đời sống người dân và thu hẹp khoảng cách vùng miền.

Thông qua mạng lưới hơn 2.200 chi nhánh, hơn 64.000 tổ vay vốn với gần 1,5 triệu thành viên, cùng hàng chục xe giao dịch lưu động phủ tới hàng trăm xã trên cả nước, Agribank đưa nguồn vốn đến tận tay người dân vùng sâu, vùng xa, bảo đảm công bằng trong tiếp cận tài chính. Agribank là đơn vị chủ lực triển khai 7 chương trình tín dụng chính sách và 2 chương trình mục tiêu quốc gia (Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững), góp phần trực tiếp hiện thực hóa phương châm “không ai bị bỏ lại phía sau”.

Bên cạnh hoạt động tín dụng, Agribank dành hàng trăm tỷ đồng mỗi năm cho công tác an sinh xã hội. Theo công bố của ngân hàng, trung bình Agribank đầu tư khoảng 500 - 600 tỷ đồng/năm cho hoạt động an sinh. Tính từ đầu năm 2025 đến nay, Agribank đã dành gần 60 tỷ đồng cho công tác hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai trong tổng số hơn 400 tỷ đồng chi cho các chương trình an sinh xã hội trên toàn quốc.

Không chỉ hướng ra xã hội, văn hóa “Vì tương lai xanh” cũng được bồi đắp từ bên trong hệ thống. Phong trào “Agribank - Vì tương lai xanh” lan tỏa sâu rộng trong đội ngũ gần 40.000 cán bộ, người lao động, thông qua các hoạt động trồng cây, giải chạy vì môi trường, tiết kiệm năng lượng. Những “hạt xanh” được gieo từ nhận thức đến hành động, hình thành văn hóa doanh nghiệp trách nhiệm, nhân văn và bền vững.

Minh Nguyệt

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80