Agribank “xanh hóa” dòng vốn tín dụng hướng tới Net Zero

Minh Nguyệt
(TBTCO) - Là ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực trong lĩnh vực “tam nông”, Agribank đã chọn con đường đặc biệt để thực hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng hành động “xanh hóa” dòng vốn tín dụng, đưa phát triển bền vững trở thành giá trị cốt lõi trong mọi hoạt động kinh doanh, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050.
aa

Chuyển dịch dòng vốn xanh

Gắn bó máu thịt với “tam nông”, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) luôn kiên định thực hiện các chủ trương về ngân hàng xanh, tín dụng xanh và tăng trưởng bền vững, coi việc tuân thủ các chuẩn mực ESG (môi trường - xã hội - quản trị) vừa là yêu cầu chiến lược, vừa là lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh chuyển đổi xanh.

Trước thách thức biến đổi khí hậu, Agribank chủ động chuyển dịch dòng vốn từ các lĩnh vực “nâu” (thâm dụng năng lượng, gây ô nhiễm) sang các dự án, mô hình sản xuất “xanh”, thân thiện với môi trường. Đến quý II/2025, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 29.000 tỷ đồng, tăng trưởng ổn định qua từng năm; trong đó năng lượng tái tạo chiếm 53% (trên 15.000 tỷ đồng), lâm nghiệp bền vững khoảng 6.900 tỷ đồng và nông nghiệp xanh hơn 6.500 tỷ đồng.

Agribank “xanh hóa” dòng vốn tín dụng hướng tới Net Zero
Agribank tập trung cho các dự án năng lượng tái tạo, lâm nghiệp bền vững và nông nghiệp sạch

Cùng với đó, Agribank triển khai chương trình tín dụng ưu đãi “Nông nghiệp sạch vì sức khỏe cộng đồng” với quy mô tối thiểu 50.000 tỷ đồng, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp an toàn, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao. Đặc biệt, việc được Chính phủ giao cung cấp tín dụng cho Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 càng khẳng định vai trò trụ cột của Agribank trong chuyển đổi nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu.

Không chỉ là nguồn vốn ưu đãi, dòng tín dụng xanh của Agribank còn cho thấy quyết tâm phát triển nông nghiệp xanh, nông thôn xanh, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao giá trị nông sản và hướng tới một nền nông nghiệp bền vững, vì sức khỏe cộng đồng.

Chuẩn mực quản trị bền vững, nền tảng cho hành động

Song hành cùng phát triển tín dụng xanh và lan tỏa giá trị xã hội, Agribank đặc biệt chú trọng yếu tố quản trị - nền tảng cốt lõi trong bộ tiêu chí ESG. Bởi lẽ, chỉ với một hệ thống quản trị minh bạch, hiệu quả và liêm chính, thì các mục tiêu phát triển xanh, phát triển bền vững mới có thể được hiện thực hóa một cách bền vững và dài lâu.

Nhận thức rõ điều đó, Agribank đã xây dựng và triển khai quy định quản lý rủi ro môi trường - xã hội (ESMS) trong hoạt động cấp tín dụng, đồng thời đang tích hợp chặt chẽ hệ thống này vào quy trình thẩm định, xét duyệt và giám sát tín dụng. Mỗi khoản vay, mỗi dự án được xem xét không chỉ trên phương diện tài chính, mà còn trên tác động môi trường và xã hội, bảo đảm nguồn vốn được sử dụng đúng mục tiêu, tránh các hoạt động gây tổn hại đến sinh thái, cộng đồng hoặc vi phạm cam kết phát triển bền vững.

Toàn hệ thống Agribank đang đồng loạt triển khai các chương trình hành động cụ thể thúc đẩy tín dụng xanh, tiết giảm phát thải nội bộ, chuyển đổi số bền vững, lồng ghép tiêu chí ESG vào đánh giá hiệu quả công việc và thi đua khen thưởng.

Bên cạnh đó, Agribank đang chuẩn hóa hệ thống quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế tiên tiến, như Báo cáo ESG, Chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS và hướng dẫn quản trị doanh nghiệp của OECD. Các nguyên tắc về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và đạo đức nghề nghiệp được lồng ghép sâu vào văn hóa nội bộ và các quy trình vận hành. Hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập và quản lý rủi ro toàn diện được củng cố thường xuyên, giúp Agribank duy trì sự ổn định, an toàn và niềm tin của khách hàng, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập tài chính quốc tế.

Không dừng ở đó, Agribank còn đóng vai trò cầu nối trong thu hút nguồn vốn quốc tế phục vụ phát triển xanh. Ngân hàng tích cực hợp tác với các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và định chế phát triển đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Quỹ Khí hậu xanh (GCF) để huy động vốn ODA và các quỹ tài chính xanh. Các nguồn lực này đang được triển khai cho nhiều dự án ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn và hạ tầng xanh tại các địa phương trọng điểm.

Việc thu hút, quản lý và phân bổ hiệu quả các nguồn vốn quốc tế không chỉ thể hiện năng lực hội nhập và uy tín của Agribank, mà còn khẳng định tầm nhìn chiến lược của một ngân hàng nhà nước tiên phong trong thực thi cam kết Net Zero của Việt Nam. Agribank đang từng bước chuyển hóa quản trị từ mô hình truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên giá trị bền vững, nơi lợi nhuận kinh tế đi đôi với lợi ích xã hội và trách nhiệm môi trường.

Hành động vì tương lai xanh

Từ “ngân hàng của nông dân” đến “ngân hàng vì cộng đồng”, hành trình gần 4 thập kỷ của Agribank luôn gắn liền với sứ mệnh phục vụ phát triển đất nước, nâng cao đời sống người dân và bảo vệ môi trường sinh thái. Dòng vốn tín dụng mà Agribank bền bỉ đưa đến từng vùng quê, từng hộ sản xuất không chỉ là nguồn lực tài chính, mà còn là nguồn năng lượng xã hội, góp phần tạo dựng nông nghiệp thịnh vượng, nông thôn đổi mới, nông dân văn minh, 3 trụ cột căn bản của nền kinh tế xanh.

Giữ vững vai trò ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực “tam nông”, Agribank tiếp tục khẳng định vị thế tiên phong trong thực thi các tiêu chuẩn ESG, hiện thực hóa mục tiêu: Phát triển xanh - Tài chính xanh - Xã hội xanh.

Những hành động đó cho thấy sự cam kết mạnh mẽ của Agribank trong xanh hóa toàn diện hoạt động ngân hàng, từ sản phẩm dịch vụ đến quản trị vận hành. Không chỉ đồng hành cùng khách hàng và cộng đồng, Agribank còn chủ động cùng Chính phủ hiện thực hóa các cam kết quốc tế về phát triển bền vững và giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Trên hành trình ấy, trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp và giá trị nhân văn luôn được đặt ở trung tâm. Bằng hành động thiết thực, Agribank không chỉ vun đắp niềm tin của hàng chục triệu khách hàng, mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh một ngân hàng thương mại nhà nước vì con người, vì môi trường và vì tương lai xanh của Việt Nam.

Agribank hiện thân của trách nhiệm xã hội

Ngoài công cụ tài chính, dòng vốn xanh của Agribank còn mang giá trị nhân văn sâu sắc khi kiến tạo sinh kế bền vững, tạo việc làm, cải thiện đời sống người dân và thu hẹp khoảng cách vùng miền.

Thông qua mạng lưới hơn 2.200 chi nhánh, hơn 64.000 tổ vay vốn với gần 1,5 triệu thành viên, cùng hàng chục xe giao dịch lưu động phủ tới hàng trăm xã trên cả nước, Agribank đưa nguồn vốn đến tận tay người dân vùng sâu, vùng xa, bảo đảm công bằng trong tiếp cận tài chính. Agribank là đơn vị chủ lực triển khai 7 chương trình tín dụng chính sách và 2 chương trình mục tiêu quốc gia (Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững), góp phần trực tiếp hiện thực hóa phương châm “không ai bị bỏ lại phía sau”.

Bên cạnh hoạt động tín dụng, Agribank dành hàng trăm tỷ đồng mỗi năm cho công tác an sinh xã hội. Theo công bố của ngân hàng, trung bình Agribank đầu tư khoảng 500 - 600 tỷ đồng/năm cho hoạt động an sinh. Tính từ đầu năm 2025 đến nay, Agribank đã dành gần 60 tỷ đồng cho công tác hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai trong tổng số hơn 400 tỷ đồng chi cho các chương trình an sinh xã hội trên toàn quốc.

Không chỉ hướng ra xã hội, văn hóa “Vì tương lai xanh” cũng được bồi đắp từ bên trong hệ thống. Phong trào “Agribank - Vì tương lai xanh” lan tỏa sâu rộng trong đội ngũ gần 40.000 cán bộ, người lao động, thông qua các hoạt động trồng cây, giải chạy vì môi trường, tiết kiệm năng lượng. Những “hạt xanh” được gieo từ nhận thức đến hành động, hình thành văn hóa doanh nghiệp trách nhiệm, nhân văn và bền vững.

Minh Nguyệt

Đọc thêm

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Kim TT/AVPL 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▲200K 15,200 ▲200K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▲200K 15,150 ▲200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▲200K 16,200 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▲200K 16,150 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▲200K 16,130 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Hà Nội - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Đà Nẵng - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Miền Tây - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Tây Nguyên - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
NL 99.90 14,600 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650 ▲50K
Trang sức 99.9 15,490 ▲150K 16,190 ▲150K
Trang sức 99.99 15,500 ▲150K 16,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 160 ▲1K 16,302 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 160 ▲1K 16,303 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 160 ▲2K 163 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 160 ▲2K 1,631 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 158 ▲2K 1,615 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,401 ▲1980K 159,901 ▲1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,387 ▲1500K 121,287 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,081 ▲1360K 109,981 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,775 ▲1220K 98,675 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,414 ▲1166K 94,314 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,602 ▲834K 67,502 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Cập nhật: 21/05/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18223 18498 19076
CAD 18626 18903 19516
CHF 32841 33226 33878
CNY 0 3836 3928
EUR 30003 30276 31303
GBP 34598 34991 35931
HKD 0 3235 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15132 15721
SGD 20064 20346 20871
THB 723 787 839
USD (1,2) 26101 0 0
USD (5,10,20) 26143 0 0
USD (50,100) 26171 26191 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,238 30,262 31,522
JPY 161.93 162.22 171
GBP 34,904 34,998 36,007
AUD 18,569 18,636 19,226
CAD 18,876 18,937 19,518
CHF 33,196 33,299 34,091
SGD 20,265 20,328 21,009
CNY - 3,813 3,937
HKD 3,308 3,318 3,437
KRW 16.25 16.95 18.33
THB 774.91 784.48 834.53
NZD 15,178 15,319 15,681
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,046 4,165
NOK - 2,805 2,893
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,244.16 - 7,008.46
TWD 756.47 - 911.12
SAR - 6,927.21 7,254.01
KWD - 83,872 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18428 18528 19451
CAD 18814 18914 19928
CHF 33119 33149 34732
CNY 3819.5 3844.5 3980
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30206 30236 31961
GBP 34923 34973 36733
HKD 0 3355 0
JPY 162.46 162.96 173.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20238 20368 21094
THB 0 753 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16050000 16050000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,195 26,245 26,391
USD20 26,195 26,245 26,391
USD1 23,879 26,245 26,391
AUD 18,554 18,654 19,776
EUR 30,370 30,370 31,796
CAD 18,775 18,875 20,195
SGD 20,327 20,477 21,400
JPY 162.97 164.47 169.11
GBP 34,837 35,187 36,315
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/05/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80