Cho thuê tài chính - nhiều ưu điểm song thị trường vẫn ngó lơ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù có nhiều ưu điểm trong tài trợ vốn trung dài hạn, không phải thế chấp tài sản như các hình thức vay vốn khác, nhưng cho thuê tài chính vẫn vắng khách, với dư nợ toàn ngành chiếm chưa tới 0,3% tổng dư nợ nền kinh tế, thậm chí có doanh nghiệp giảm sâu. Nhiều ý kiến cho rằng, cần cơ chế cởi mở hơn để kênh vốn này phát huy đúng tiềm năng.
aa
Cho thuê tài chính - nhiều ưu điểm song thị trường vẫn ngó lơ
Nguồn: Hiệp hội Cho thuê tài chính

Trong cuộc trao đổi với phóng viên, một nhân viên tư vấn thuộc công ty cho thuê tài chính có 100% vốn đầu tư nước ngoài, trụ sở đặt tại Đài Loan (Trung Quốc) cho biết, các gói thuê tài chính trung hạn hiện có mức lãi suất dao động khoảng 8 - 12%/năm. Mức lãi suất cụ thể sẽ phụ thuộc vào kết quả thẩm định hồ sơ, điểm tín dụng và tình hình tài chính của từng doanh nghiệp.

Doanh nghiệp chưa mặn mà

Theo nhân viên công ty này, hình thức cho thuê tài chính có đặc thù tập trung chủ yếu vào tài sản là máy móc, thiết bị. "Về cơ bản, hình thức này tương tự như vay mua xe trả góp, tức lãi tính theo dư nợ giảm dần và gốc được chia đều theo tháng. Thời hạn vay dao động 36 - 60 tháng, thuộc nhóm vay trung và dài hạn. Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp chỉ cần thế chấp chính máy móc, không yêu cầu tài sản bất động sản đi kèm. Tỷ lệ tài trợ đối với máy móc mới thông thường tối đa lên tới 80%" - nhân viên tư vấn rõ.

Doanh nghiệp chọn giải pháp vay phù hợp

"Ngoài lãi suất thấp khoảng 8 - 9%, có thể còn thêm các khoản thuế, phí, phụ phí khác trong quá trình triển khai hợp đồng cho thuê tài chính. Với các doanh nghiệp có tài sản đảm bảo là bất động sản, nhà xưởng thì sẽ vay ngân hàng để có được lãi suất tốt hơn nếu doanh nghiệp có điểm đánh giá tín dụng tốt, phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả được các ngân hàng tin tưởng".

Ông Trần Đức Hoàn, Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư và Sản xuất Thái Hưng nhận định.

Về điều kiện xét duyệt, tuy không đòi hỏi nhiều tài sản như ngân hàng, nhưng quá trình thẩm định lại khá kỹ lưỡng. Dù vậy, thời gian xử lý hồ sơ thường khá nhanh, thông thường mất khoảng 2 tuần kể từ khi đầy đủ hồ sơ.

Là doanh nghiệp chuyên sản xuất và cung cấp bao bì đóng gói cho các khách hàng FDI, Công ty TNHH Đầu tư và Sản xuất Thái Hưng có nhu cầu đầu tư máy móc khá lớn. Tuy nhiên, theo chia sẻ của Giám đốc Trần Đức Hoàn, công ty mới chỉ nghe đến hình thức thuê tài chính và chưa từng sử dụng kênh vốn này.

Theo ông Hoàn, đối với các nhà máy sản xuất, thuê tài chính là giải pháp tài chính phù hợp trong trường hợp không có tài sản đảm bảo để vay ngân hàng, nhưng vẫn cần nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, hoặc muốn thế chấp chính máy móc thiết bị để vay vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh.

Với Thái Hưng, doanh nghiệp được một ngân hàng quốc doanh cho vay lưu động với lãi suất 5,6%/năm, do đó, theo lãnh đạo công ty, việc sử dụng sản phẩm thuê tài chính không phải là lựa chọn tối ưu.

Về bản chất, cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn thông qua việc cho thuê tài sản, đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp hỗ trợ tài chính kịp thời cho những doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh khả thi nhưng "nghèo" vốn. Một trong những ưu điểm lớn nhất là doanh nghiệp có thể được tài trợ tới 100% giá trị tài sản thuê, nhiều trường hợp không cần tài sản thế chấp, giúp giảm áp lực huy động vốn ban đầu và tận dụng cơ hội đầu tư nhanh chóng, nhất là trong bối cảnh công nghệ liên tục thay đổi.

So sánh với hình thức vay thông thường qua các ngân hàng, đặc biệt là nhóm "Big 4", thường đi kèm điều kiện mở tài khoản và tài sản đảm bảo như đất đai, nhà xưởng, nên có thể hưởng lãi suất ưu đãi hơn. Trong khi đó, các công ty cho thuê tài chính chỉ dựa vào hợp đồng thuê, không yêu cầu mở tài khoản thanh toán tại đơn vị cung cấp vốn; đồng thời, không yêu cầu tài sản đảm bảo, mà chỉ cần thế chấp chính máy móc, thiết bị đầu tư.

Cần khai thông kênh vốn thật cho sản xuất thực

Mặc dù sở hữu nhiều ưu điểm và có thể góp phần chia sẻ gánh nặng tín dụng trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng, hình thức cho thuê tài chính hiện vẫn chưa được cộng đồng doanh nghiệp ưa chuộng.

Chia sẻ với phóng viên về vấn đề này, một nhân viên đang làm việc tại công ty cho thuê tài chính trực thuộc một ngân hàng thuộc nhóm "Big 4" giãi bày, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vẫn có tâm lý ưu tiên vay vốn lưu động từ ngân hàng vì đây là hình thức phổ biến và quen thuộc.

Tuy nhiên, xét về bản chất, cho thuê tài chính lại là lựa chọn rất phù hợp đối với những doanh nghiệp sở hữu tài sản khó định giá cao hoặc khó phát mại tại ngân hàng, chẳng hạn như dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị chuyên dụng...

Không thể nói hình thức này "kén khách", mà vấn đề nằm ở chỗ sự phổ biến và mức độ hiểu biết về lĩnh vực cho thuê tài chính trong cộng đồng doanh nghiệp hiện vẫn hạn chế. Về dài hạn, hình thức cấp vốn trung và dài hạn của các công ty cho thuê tài chính sẽ ngày càng thể hiện rõ lợi thế, đặc biệt với những doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư thiết bị, vật tư sản xuất. Thậm chí, theo vị này, trong tương lai, phạm vi này có thể mở rộng sang cả các tài sản phi vật lý như: phần mềm, công nghệ...

Một điểm nổi bật là sau khi kết thúc hợp đồng, doanh nghiệp có thể chuyển quyền sở hữu đối với chính máy móc, thiết bị đã thuê, giúp tối ưu hóa tài sản và dòng tiền.

Cũng theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, khác với các lĩnh vực vay vốn khác, khách hàng của cho thuê tài chính thường là các doanh nghiệp sản xuất thật, hoạt động thật và sử dụng vốn đúng mục đích, không phải các trường hợp “vẽ dự án” để huy động vốn đầu cơ như trong lĩnh vực bất động sản.

"Vì vậy, cần có các chính sách nới lỏng, khuyến khích, tháo gỡ rào cản để thúc đẩy phát triển lĩnh vực cho thuê tài chính, bởi cho vay tài chính hiện chưa phổ biến ở Việt Nam" - ông Huân nêu rõ.

Hiệp hội Cho thuê tài chính nhiều lần kiến nghị, cần có quan điểm cởi mở hơn trong cấp phép để các công ty cho thuê tài chính dễ dàng gia nhập thị trường, bởi đây là tổ chức không nhận tiền gửi dân cư, chỉ huy động vốn từ tổ chức, ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu. Đồng thời, cần chấp nhận mức rủi ro cao hơn, với tỷ lệ nợ xấu ở mức 5 - 6% được xem là bình thường, do đặc thù phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, nên xây dựng Luật cho thuê tài chính nhằm mở rộng phạm vi tài sản cho thuê và quy định rõ các hình thức huy động vốn.

Thị trường cho thuê tài chính vẫn “đi chậm”

Theo số liệu từ Hiệp hội Cho thuê tài chính, hiện chỉ có khoảng 4.500 doanh nghiệp sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính, chiếm 0,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước. Do mức độ nhận biết còn hạn chế, nên quy mô dư nợ của lĩnh vực này còn hạn chế, đạt gần 40,7 nghìn tỷ đồng tính đến cuối quý I/2025, chưa đầy 0,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Hiện Việt Nam có 10 công ty cho thuê tài chính, trong đó chỉ 8 công ty đang hoạt động. Dữ liệu của phóng viên cũng cho thấy, dư nợ của một số công ty cho thuê tài chính lớn ở mức khá khiêm tốn so với các hình thức khác.

Đơn cử, năm 2024, Vietcombank Leasing có quy mô dư nợ cho thuê tài chính với 7.094 tỷ đồng, tăng 17%. Sacombank Leasing là 5.573 tỷ đồng, tăng 20,2%; BSL (BIDV - SuMi TRUST) với 5.638 tỷ đồng, tăng 22,2%. Dù tăng trưởng tín dụng cao 29%, ACB Leasing chỉ đạt dư nợ 2.262 tỷ đồng, thấp nhất trong nhóm khảo sát. Đáng chú ý, VietinBank Leasing sụt giảm dư nợ 14,2% còn 4.639 tỷ đồng.

Xét về chất lượng tín dụng, ACB Leasing cải thiện tỷ lệ nợ xấu từ 2,13% xuống còn 1,5%. Sacombank Leasing và VietinBank Leasing có tỷ lệ nợ xấu lần lượt là 2,08% và 2,54%, đều tăng so với năm trước.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80