“Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - “Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục mở rộng trong năm 2025 khi doanh thu toàn ngành tăng khoảng 11%. Bức tranh thị trường ghi nhận nhiều doanh nghiệp lập đỉnh doanh thu mới, trong khi các tân binh tăng tốc mạnh với mức tăng hai, thậm chí ba con số, qua đó, đẩy cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt.
aa

Nhiều doanh nghiệp lập đỉnh doanh thu, tân binh tăng tốc

Hòa chung bức tranh tăng trưởng tích cực của toàn ngành, các doanh nghiệp bảo hiểm, kể cả những tân binh mới gia nhập thị trường, đều ghi nhận kết quả kinh doanh khả quan, cho thấy dư địa phát triển và sức bật của thị trường tiếp tục được mở rộng.

Thông tin về sự đóng góp của lĩnh vực bảo hiểm trong kết quả kinh doanh tích cực năm 2025 của ngân hàng ngày 20/1, ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank nhấn mạnh, việc ra mắt Techcom Life và vận hành trọn năm của TCGIns đã củng cố năng lực phục vụ khách hàng toàn diện trên các lĩnh vực ngân hàng, quản lý tài sản, thị trường vốn và bảo hiểm.

“Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt
Nguồn: Cục Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính). Đồ họa: Ánh Tuyết

Riêng ở mảng bảo hiểm phi nhân thọ, Techcom Insurance (TCGIns) khép lại năm hoạt động đầu tiên với hơn 500 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm và phục vụ trên 650 nghìn khách hàng. Danh mục sản phẩm được xây dựng đa dạng, từ bảo hiểm sức khỏe, xe cơ giới, tài sản đến các giải pháp dành cho doanh nghiệp; đồng thời, các sản phẩm được triển khai trên nền tảng số hiện đại. Qua đó, khẳng định vai trò rõ nét của TCGIns trong hệ sinh thái tài chính toàn diện của Techcombank.

Đáng chú ý, theo đại diện Techcombank, mảng bảo hiểm ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ sau khi hoàn tất chuyển đổi mô hình. "Riêng quý IV/2025 tăng gấp 31 lần so với cùng kỳ năm 2024 với 361,4 tỷ đồng" - đại diện Techcombank nêu rõ.

Năm 2025, Bảo hiểm DBV cũng ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt đỉnh lịch sử, doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt mốc 4.000 tỷ đồng những ngày cuối năm, cùng tốc độ tăng trưởng từ năm 2020 đến nay vượt trội so với các giai đoạn trước. Năm qua cũng là cột mốc quan trọng khi DBV tái định vị thương hiệu, không chỉ thay đổi hình ảnh, mà là sự chuyển dịch toàn diện về chiến lược phát triển, gắn với những điều chỉnh về hình ảnh, định hướng chiến lược và tái cấu trúc danh mục sản phẩm.

Hội nghị Triển khai chiến lược năm 2026 mảng bảo hiểm phi nhân thọ do VPBank phối hợp với Bảo hiểm OPES tổ chức cũng điểm lại một năm tăng trưởng ấn tượng. Theo đó, mảng bảo hiểm phi nhân thọ của VPBank ghi nhận doanh thu phí đạt 1.700 tỷ đồng.

Nhờ sự đồng hành của VPBank, OPES khép lại năm với doanh thu phí bảo hiểm vượt 5.000 tỷ đồng, tăng trưởng 80%, đây là mức tăng thuộc nhóm cao nhất toàn ngành. Chỉ sau 3 năm gia nhập VPBank, kể từ thương vụ VPBank chi hàng trăm tỷ đồng thâu tóm và đưa OPES trở thành công ty con, doanh nghiệp này đã vươn lên nhóm top 3 doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhất ngành.

Thị phần top đầu co lại, nhóm sau bứt tốc

Nhìn sâu vào bức tranh chi tiết hơn để thấy sự đua tranh thị phần toàn ngành, số liệu của Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm, Bộ Tài chính cho thấy, 10 tháng 2025, một số doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu bứt phá với tốc độ trên 50% so với cùng kỳ năm 2024, nhằm giành thêm thị phần như: Tasco (1.200 tỷ đồng, tăng 196,5%), OPES (3.769 tỷ đồng, tăng 100,07%) và SGI (73 tỷ đồng, tăng 61,36%). Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp đuối sức hơn như: Samsung Vina (833 tỷ đồng, giảm 16,6%) và GIC (1.275 tỷ đồng, giảm 37,19%).

Lối đi bền vững tránh cạnh tranh bằng giá rẻ

Dựa trên xu hướng giai đoạn 2025 - 2026, các yếu tố then chốt doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần chú ý là đa dạng hóa sản phẩm để giảm rủi ro tập trung. Thay vì phụ thuộc lớn vào nghiệp vụ xe cơ giới hoặc tài sản, những mảng chiếm tỷ trọng cao và dễ chịu tác động bởi lạm phát hoặc thiên tai, các doanh nghiệp cần mở rộng sang bảo hiểm y tế, nông nghiệp hoặc bảo hiểm an ninh mạng... nhằm phân tán rủi ro. Từ đó, duy trì tăng trưởng doanh thu phí gốc 10 - 15%/năm và cho phép điều chỉnh phí linh hoạt trong biên độ 25%, tránh cạnh tranh giá rẻ làm mỏng biên lợi nhuận. Song song là ứng dụng công nghệ vào khâu phân phối và giải quyết bồi thường nhằm giảm chi phí vận hành.

TS. Lê Bá Chí Nhân - Chuyên gia kinh tế

Theo TS. Lê Bá Chí Nhân - Chuyên gia kinh tế, bức tranh thị trường cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ rệt giữa các doanh nghiệp. Một số đơn vị ghi nhận mức tăng trưởng hai chữ số 10 - 20% hoặc cao hơn, nhờ tận dụng hiệu quả các kênh phân phối ngân hàng liên kết và đẩy mạnh các nghiệp vụ chủ lực như: bảo hiểm xe cơ giới, tài sản.

Ngược lại, không ít doanh nghiệp chỉ tăng trưởng một chữ số, thậm chí sụt giảm, phản ánh áp lực cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ nước ngoài hoặc các "ông lớn" trong nước như: PVI, Bảo Việt. "Cùng tác động từ lạm phát và biến động kinh tế khiến khách hàng cá nhân, doanh nghiệp cắt giảm chi tiêu cho bảo hiểm không bắt buộc" - ông Nhân nhìn nhận.

Về cuộc đua thị phần, top 5 doanh nghiệp dẫn đầu còn nắm giữ 49,3% thị phần toàn ngành trong 10 tháng 2025, thu hẹp so với 53,4% năm 2022, theo dữ liệu phóng viên tổng hợp. Diễn biến này phản ánh xu hướng các doanh nghiệp ở nhóm sau tăng trưởng nhanh, từng bước thu hẹp khoảng cách.

Ngay trong nhóm đầu ngành, cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt. PVI tiếp tục dẫn đầu với thị phần 17,7% trong 10 tháng 2025, cao hơn những năm trước dao động từ 14 - 17%. Doanh thu phí gốc đạt 12.749 tỷ đồng, tăng 11% cùng kỳ, cho thấy vừa mở rộng quy mô, vừa mở rộng “miếng bánh” thị phần.

Bảo Việt giữ vị trí thứ hai với thị phần 12,9%, doanh thu tăng nhẹ 5,3% lên 9.292 tỷ đồng. Bảo Minh đứng thứ ba với 7,1% thị phần nhưng suy giảm so với trước, doanh thu giảm 1,7%.

MIC và BIC thì sát nút, với thị phần lần lượt 5,9% và 5,7%, đều giảm so với cuối năm 2024, phản ánh áp lực cạnh tranh. Đáng chú ý, PTI không còn trong bảng xếp hạng dù từng nắm 7 - 9% thị phần, phản ánh không theo kịp tốc độ tăng trưởng chung thị trường.

Doanh nghiệp xác lập các trụ cột chiến lược

Cùng sự mở rộng quy mô thị trường, cơ quan quản lý tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh. Năm 2025, Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm đã trình Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí đối với 32 sản phẩm bảo hiểm vật chất xe cơ giới và 196 sản phẩm bảo hiểm sức khỏe. Qua đó, mở rộng không gian phát triển thị trường, đưa tổng doanh thu phí bảo hiểm khối phi nhân thọ ước 88.425 tỷ đồng, tăng 11%.

Trên nền tảng chính sách và khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện, các doanh nghiệp định hướng chiến lược rõ nét hơn.

Năm 2026, VPBank xác định bancassurance phi nhân thọ tiếp tục là một trong những trụ cột chiến lược. Về phía OPES, sẽ tập trung mở rộng danh mục sản phẩm, đa dạng hóa giải pháp bảo hiểm; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm mang lại trải nghiệm tối ưu. Song song với đà tăng trưởng quy mô, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, phát triển sản phẩm và tự động hóa vận hành giúp OPES từng bước khẳng định vị thế doanh nghiệp bảo hiểm số.

Lãnh đạo Bảo hiểm DBV cũng cho biết, kết quả tăng trưởng nổi bật trong năm qua được xây dựng trên ba nền tảng cốt lõi, đồng thời tạo đà cho năm 2026.

Thứ nhất, doanh nghiệp kiên định chiến lược tăng trưởng dài hạn, phân chia mục tiêu theo từng giai đoạn cụ thể, không chạy theo doanh thu bằng mọi giá mà tập trung vào các nghiệp vụ cốt lõi, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu năng lực vận hành. Thứ hai, DBV nâng chuẩn vận hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuẩn hóa dữ liệu và tự động hóa các khâu từ khai thác, thẩm định đến bồi thường nhằm tăng năng suất, giảm chi phí và rút ngắn thời gian phục vụ. Thứ ba, doanh nghiệp đầu tư mạnh cho con người và mạng lưới, với hệ thống đơn vị phủ khắp cả nước, giúp tiếp cận khách hàng sâu rộng hơn, đặc biệt tại các địa phương.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80