“Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - “Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục mở rộng trong năm 2025 khi doanh thu toàn ngành tăng khoảng 11%. Bức tranh thị trường ghi nhận nhiều doanh nghiệp lập đỉnh doanh thu mới, trong khi các tân binh tăng tốc mạnh với mức tăng hai, thậm chí ba con số, qua đó, đẩy cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt.
aa

Nhiều doanh nghiệp lập đỉnh doanh thu, tân binh tăng tốc

Hòa chung bức tranh tăng trưởng tích cực của toàn ngành, các doanh nghiệp bảo hiểm, kể cả những tân binh mới gia nhập thị trường, đều ghi nhận kết quả kinh doanh khả quan, cho thấy dư địa phát triển và sức bật của thị trường tiếp tục được mở rộng.

Thông tin về sự đóng góp của lĩnh vực bảo hiểm trong kết quả kinh doanh tích cực năm 2025 của ngân hàng ngày 20/1, ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank nhấn mạnh, việc ra mắt Techcom Life và vận hành trọn năm của TCGIns đã củng cố năng lực phục vụ khách hàng toàn diện trên các lĩnh vực ngân hàng, quản lý tài sản, thị trường vốn và bảo hiểm.

“Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt
Nguồn: Cục Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính). Đồ họa: Ánh Tuyết

Riêng ở mảng bảo hiểm phi nhân thọ, Techcom Insurance (TCGIns) khép lại năm hoạt động đầu tiên với hơn 500 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm và phục vụ trên 650 nghìn khách hàng. Danh mục sản phẩm được xây dựng đa dạng, từ bảo hiểm sức khỏe, xe cơ giới, tài sản đến các giải pháp dành cho doanh nghiệp; đồng thời, các sản phẩm được triển khai trên nền tảng số hiện đại. Qua đó, khẳng định vai trò rõ nét của TCGIns trong hệ sinh thái tài chính toàn diện của Techcombank.

Đáng chú ý, theo đại diện Techcombank, mảng bảo hiểm ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ sau khi hoàn tất chuyển đổi mô hình. "Riêng quý IV/2025 tăng gấp 31 lần so với cùng kỳ năm 2024 với 361,4 tỷ đồng" - đại diện Techcombank nêu rõ.

Năm 2025, Bảo hiểm DBV cũng ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt đỉnh lịch sử, doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt mốc 4.000 tỷ đồng những ngày cuối năm, cùng tốc độ tăng trưởng từ năm 2020 đến nay vượt trội so với các giai đoạn trước. Năm qua cũng là cột mốc quan trọng khi DBV tái định vị thương hiệu, không chỉ thay đổi hình ảnh, mà là sự chuyển dịch toàn diện về chiến lược phát triển, gắn với những điều chỉnh về hình ảnh, định hướng chiến lược và tái cấu trúc danh mục sản phẩm.

Hội nghị Triển khai chiến lược năm 2026 mảng bảo hiểm phi nhân thọ do VPBank phối hợp với Bảo hiểm OPES tổ chức cũng điểm lại một năm tăng trưởng ấn tượng. Theo đó, mảng bảo hiểm phi nhân thọ của VPBank ghi nhận doanh thu phí đạt 1.700 tỷ đồng.

Nhờ sự đồng hành của VPBank, OPES khép lại năm với doanh thu phí bảo hiểm vượt 5.000 tỷ đồng, tăng trưởng 80%, đây là mức tăng thuộc nhóm cao nhất toàn ngành. Chỉ sau 3 năm gia nhập VPBank, kể từ thương vụ VPBank chi hàng trăm tỷ đồng thâu tóm và đưa OPES trở thành công ty con, doanh nghiệp này đã vươn lên nhóm top 3 doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhất ngành.

Thị phần top đầu co lại, nhóm sau bứt tốc

Nhìn sâu vào bức tranh chi tiết hơn để thấy sự đua tranh thị phần toàn ngành, số liệu của Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm, Bộ Tài chính cho thấy, 10 tháng 2025, một số doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu bứt phá với tốc độ trên 50% so với cùng kỳ năm 2024, nhằm giành thêm thị phần như: Tasco (1.200 tỷ đồng, tăng 196,5%), OPES (3.769 tỷ đồng, tăng 100,07%) và SGI (73 tỷ đồng, tăng 61,36%). Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp đuối sức hơn như: Samsung Vina (833 tỷ đồng, giảm 16,6%) và GIC (1.275 tỷ đồng, giảm 37,19%).

Lối đi bền vững tránh cạnh tranh bằng giá rẻ

Dựa trên xu hướng giai đoạn 2025 - 2026, các yếu tố then chốt doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần chú ý là đa dạng hóa sản phẩm để giảm rủi ro tập trung. Thay vì phụ thuộc lớn vào nghiệp vụ xe cơ giới hoặc tài sản, những mảng chiếm tỷ trọng cao và dễ chịu tác động bởi lạm phát hoặc thiên tai, các doanh nghiệp cần mở rộng sang bảo hiểm y tế, nông nghiệp hoặc bảo hiểm an ninh mạng... nhằm phân tán rủi ro. Từ đó, duy trì tăng trưởng doanh thu phí gốc 10 - 15%/năm và cho phép điều chỉnh phí linh hoạt trong biên độ 25%, tránh cạnh tranh giá rẻ làm mỏng biên lợi nhuận. Song song là ứng dụng công nghệ vào khâu phân phối và giải quyết bồi thường nhằm giảm chi phí vận hành.

TS. Lê Bá Chí Nhân - Chuyên gia kinh tế

Theo TS. Lê Bá Chí Nhân - Chuyên gia kinh tế, bức tranh thị trường cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ rệt giữa các doanh nghiệp. Một số đơn vị ghi nhận mức tăng trưởng hai chữ số 10 - 20% hoặc cao hơn, nhờ tận dụng hiệu quả các kênh phân phối ngân hàng liên kết và đẩy mạnh các nghiệp vụ chủ lực như: bảo hiểm xe cơ giới, tài sản.

Ngược lại, không ít doanh nghiệp chỉ tăng trưởng một chữ số, thậm chí sụt giảm, phản ánh áp lực cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ nước ngoài hoặc các "ông lớn" trong nước như: PVI, Bảo Việt. "Cùng tác động từ lạm phát và biến động kinh tế khiến khách hàng cá nhân, doanh nghiệp cắt giảm chi tiêu cho bảo hiểm không bắt buộc" - ông Nhân nhìn nhận.

Về cuộc đua thị phần, top 5 doanh nghiệp dẫn đầu còn nắm giữ 49,3% thị phần toàn ngành trong 10 tháng 2025, thu hẹp so với 53,4% năm 2022, theo dữ liệu phóng viên tổng hợp. Diễn biến này phản ánh xu hướng các doanh nghiệp ở nhóm sau tăng trưởng nhanh, từng bước thu hẹp khoảng cách.

Ngay trong nhóm đầu ngành, cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt. PVI tiếp tục dẫn đầu với thị phần 17,7% trong 10 tháng 2025, cao hơn những năm trước dao động từ 14 - 17%. Doanh thu phí gốc đạt 12.749 tỷ đồng, tăng 11% cùng kỳ, cho thấy vừa mở rộng quy mô, vừa mở rộng “miếng bánh” thị phần.

Bảo Việt giữ vị trí thứ hai với thị phần 12,9%, doanh thu tăng nhẹ 5,3% lên 9.292 tỷ đồng. Bảo Minh đứng thứ ba với 7,1% thị phần nhưng suy giảm so với trước, doanh thu giảm 1,7%.

MIC và BIC thì sát nút, với thị phần lần lượt 5,9% và 5,7%, đều giảm so với cuối năm 2024, phản ánh áp lực cạnh tranh. Đáng chú ý, PTI không còn trong bảng xếp hạng dù từng nắm 7 - 9% thị phần, phản ánh không theo kịp tốc độ tăng trưởng chung thị trường.

Doanh nghiệp xác lập các trụ cột chiến lược

Cùng sự mở rộng quy mô thị trường, cơ quan quản lý tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh. Năm 2025, Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm đã trình Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí đối với 32 sản phẩm bảo hiểm vật chất xe cơ giới và 196 sản phẩm bảo hiểm sức khỏe. Qua đó, mở rộng không gian phát triển thị trường, đưa tổng doanh thu phí bảo hiểm khối phi nhân thọ ước 88.425 tỷ đồng, tăng 11%.

Trên nền tảng chính sách và khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện, các doanh nghiệp định hướng chiến lược rõ nét hơn.

Năm 2026, VPBank xác định bancassurance phi nhân thọ tiếp tục là một trong những trụ cột chiến lược. Về phía OPES, sẽ tập trung mở rộng danh mục sản phẩm, đa dạng hóa giải pháp bảo hiểm; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm mang lại trải nghiệm tối ưu. Song song với đà tăng trưởng quy mô, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, phát triển sản phẩm và tự động hóa vận hành giúp OPES từng bước khẳng định vị thế doanh nghiệp bảo hiểm số.

Lãnh đạo Bảo hiểm DBV cũng cho biết, kết quả tăng trưởng nổi bật trong năm qua được xây dựng trên ba nền tảng cốt lõi, đồng thời tạo đà cho năm 2026.

Thứ nhất, doanh nghiệp kiên định chiến lược tăng trưởng dài hạn, phân chia mục tiêu theo từng giai đoạn cụ thể, không chạy theo doanh thu bằng mọi giá mà tập trung vào các nghiệp vụ cốt lõi, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu năng lực vận hành. Thứ hai, DBV nâng chuẩn vận hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuẩn hóa dữ liệu và tự động hóa các khâu từ khai thác, thẩm định đến bồi thường nhằm tăng năng suất, giảm chi phí và rút ngắn thời gian phục vụ. Thứ ba, doanh nghiệp đầu tư mạnh cho con người và mạng lưới, với hệ thống đơn vị phủ khắp cả nước, giúp tiếp cận khách hàng sâu rộng hơn, đặc biệt tại các địa phương.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80