Thị phần doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh trong giai đoạn tái cấu trúc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang bước vào chu kỳ tái cấu trúc mạnh mẽ, thể hiện rõ qua bức tranh doanh thu và thị phần 10 tháng năm 2025. Trong giai đoạn khảo sát, có doanh nghiệp tăng thị phần trên 11 điểm phần trăm so với trước đây, trong khi nhiều doanh nghiệp khác thu hẹp đáng kể. Song song đó, cơ cấu nghiệp vụ bảo hiểm được tái cân bằng, buộc doanh nghiệp và đội ngũ tư vấn viên nâng cấp nghiệp vụ, đồng hành dài hạn cùng khách hàng.
aa

Tái cân bằng, cuộc đua thị phần thay đổi

Báo cáo của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường năm 2025 ước đạt 237.211 tỷ đồng, tăng 3,96% cùng kỳ năm 2024. Trong đó, khối bảo hiểm nhân thọ đạt khoảng 148.786 tỷ đồng, chiếm 62,7% tổng doanh thu toàn ngành và phát đi tín hiệu phục hồi khi ghi nhận mức tăng nhẹ trở lại sau giai đoạn trầm lắng.

Trong bối cảnh đó, bức tranh doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới của các doanh nghiệp nhân thọ cũng phản ánh rõ nét mức độ cạnh tranh về thị phần. Số liệu 10 tháng 2025 của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, tổng doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới trong 10 tháng 2025 ước đạt hơn 19.483 tỷ đồng. Đáng chú ý, bức tranh thị phần doanh thu phí bảo hiểm gốc cho thấy sự hoán đổi rõ nét về thứ hạng của từng doanh nghiệp trong quá trình tái phân bổ "niềm tin" trên thị trường.

Thị phần doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh trong giai đoạn tái cấu trúc
Nguồn: Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính).

So sánh với năm gốc 2022 - thời điểm thị trường chưa chịu biến động, có thể thấy một trật tự mới đang dần định hình, mở ra giai đoạn phát triển cân bằng, chọn lọc và lành mạnh hơn cho toàn ngành.

Theo đó, Bảo Việt Nhân thọ nổi bật nhất khi chiếm 21,7% thị phần, tăng thêm 5,1 điểm phần trăm so với năm 2024 và tăng mạnh nhất thị trường 11,31 điểm phần trăm so với năm 2022, đưa doanh nghiệp này dẫn đầu thị phần toàn ngành.

Dai-ichi Life dù giữ vị trí thứ 2, lại cho thấy sự thu hẹp dần thị phần khi giảm 2,6 điểm phần trăm so với năm 2024 và 1,02 điểm phần trăm so với năm 2022. Điều này cho thấy Dai-ichi vẫn nỗ lực giữ quy mô, nhưng đang chịu áp lực cạnh tranh rõ rệt trong giai đoạn thị trường phục hồi chậm và chọn lọc hơn.

Phát triển bền vững không chỉ dựa trên tăng trưởng doanh thu

"Phát triển bền vững, theo chúng tôi, không chỉ được đo bằng tăng trưởng doanh thu, mà còn thể hiện ở những giá trị dài hạn mà doanh nghiệp bảo hiểm mang lại cho xã hội. Đó là việc bảo vệ hàng triệu gia đình trước rủi ro, góp phần củng cố hệ thống an sinh xã hội; là việc đầu tư nguồn tài sản dài hạn vào nền kinh tế, hỗ trợ cho tăng trưởng ổn định; và là việc tạo ra các cơ hội việc làm chất lượng trong hệ sinh thái bảo hiểm - tài chính, từ đội ngũ tư vấn, dịch vụ khách hàng cho tới các nhân viên vận hành".

Bà Elena Butarova - Tổng Giám đốc BIDV MetLife

AIA cũng là điểm sáng đáng chú ý khi vươn lên thứ 3 với 12,1% thị phần, tăng mạnh 5,8 điểm phần trăm so với năm 2024 và tăng 4,86% so với 2022. Đây là doanh nghiệp có mức cải thiện thị phần lớn thứ hai sau Bảo Việt, phản ánh chiến lược tái cơ cấu sản phẩm và kênh phân phối đang phát huy hiệu quả trong giai đoạn hậu biến động.

MB Life cũng sớm lấy lại phong độ và duy trì trạng thái tương đối ổn định, chiếm khoảng 6,5 - 7% thị phần giai đoạn khảo sát. Điều này phản ánh khả năng giữ nền khách hàng và cải thiện dần trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt. Bên cạnh các doanh nghiệp dẫn đầu, một số tên tuổi khác cũng ghi dấu ấn khi nằm trong nhóm có thị phần doanh thu phí khai thác mới cao trên thị trường, tiêu biểu như: Generali (7,3%) và BIDV MetLife (4,3%)...

Trái ngược, hầu hết các doanh nghiệp khác ghi nhận sự suy giảm về thị phần doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới.

Cơ cấu nghiệp vụ bảo hiểm cũng phản ánh rõ quá trình tái cân bằng của thị trường bảo hiểm nhân thọ qua số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm. Theo đó, năm 2022, bảo hiểm liên kết đầu tư áp đảo 92,37%, cho thấy thị trường nghiêng mạnh về tích lũy, đầu tư, trong khi các nghiệp vụ bảo vệ chiếm tỷ trọng nhỏ. Sang 10 tháng 2025, cơ cấu tiếp tục điều chỉnh khi tỷ trọng bảo hiểm liên kết đầu tư tiếp tục giảm xuống 66,9%; bảo hiểm tử kỳ tăng lên 8,2%, cho thấy nhu cầu bảo vệ thuần túy dần trở lại, thị trường dịch chuyển sang phát triển cân bằng và bền vững hơn.

Tái cấu trúc từ gốc, tư vấn viên buộc phải thay đổi

Theo ông Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế, động lực phục hồi của thị trường bảo hiểm cùng triển vọng tăng trưởng thực chất năm 2026 đang dần hình thành theo hướng tích cực và bền vững hơn. Sau giai đoạn biến động, ngành bảo hiểm đã chủ động chuyển sang chu kỳ tái cấu trúc sâu.

Cũng theo ông Nhân, các quy định mới của Bộ Tài chính, tiêu biểu như Nghị định 46/2023/NĐ-CP bổ sung quy định mới cho bảo hiểm liên kết đầu tư, loại bỏ lạm dụng tình trạng bán kèm và đưa trọng tâm trở lại giá trị bảo vệ thực chất cho người tham gia.

Song song đó, xu hướng già hóa dân số diễn ra nhanh tại Việt Nam, đặc biệt với thế hệ “bánh mì kẹp” (thế hệ vừa phải nuôi bố mẹ, vừa phải nuôi con cái) chịu áp lực kép về tài chính - xã hội, đang làm gia tăng nhu cầu bảo vệ tài chính dài hạn và lập kế hoạch an sinh.

"Yếu tố quyết định là khả năng tuân thủ quy định mới để xây dựng lòng tin lâu dài, tránh lặp lại khủng hoảng" - ông Nhân nhấn mạnh.

Cùng chung quan điểm, chuyên gia bảo hiểm Thạch Long cho rằng, năm vừa qua, nhiều doanh nghiệp phải thiết kế lại danh mục sản phẩm. Sản phẩm chính trở nên tinh gọn, minh bạch; quyền lợi bổ trợ trở thành tùy chọn, thay vì khách hàng mặc định phải mua. Cùng với đó, doanh số bảo hiểm tử kỳ ghi nhận xu hướng tăng lên nhờ mức phí hợp lý, khả năng tiếp cận cao và sự dịch chuyển rõ nét của người dân sang ưu tiên giá trị bảo vệ thuần túy.

Doanh nghiệp cũng buộc phải chuyển từ thiết kế sản phẩm để bán sang để khách hàng hiểu và chọn. Doanh thu ngắn hạn có thể giảm vì hợp đồng không còn phí cao, nhưng niềm tin thị trường sẽ tăng, vì khách hàng thấy rõ tính minh bạch. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp khẳng định chất lượng tư vấn và xây dựng thương hiệu dài hạn, thay vì chạy theo số lượng hợp đồng.

Điều này cũng đòi hỏi tư vấn viên phải nâng cấp nghiệp vụ "đóng gói sản phẩm" theo đúng tình hình thực tế của từng khách hàng. "Tư vấn viên yếu nghề, không đầu tư học tập rèn luyện nghiệp vụ sẽ bị đào thải" - ông Long đánh giá.

Đặt quyền lợi khách hàng ở trung tâm, đồng hành dài hạn

Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ chuyển sang giai đoạn tái cấu trúc theo chiều sâu, chất lượng tư vấn đang được xem là yếu tố then chốt để khôi phục và củng cố niềm tin của khách hàng.

Bà Elena Butarova - Phó Chủ tịch cấp cao MetLife khu vực châu Á, Tổng Giám đốc BIDV MetLife cho biết, ở khâu tư vấn, doanh nghiệp liên tục sắp xếp các lớp đào tạo, tập huấn cho các tư vấn viên, để việc tư vấn được minh bạch nhất, đảm bảo quyền lợi, điều kiện loại trừ và trách nhiệm của các bên. Với kênh bancassurance (bán bảo hiểm qua ngân hàng), tư vấn không còn là “bán sản phẩm”, mà là đồng hành dài hạn cùng khách hàng trong quản lý rủi ro và hoạch định tài chính.

Theo đại diện Bảo hiểm nhân thọ MB Life, giai đoạn chuẩn hóa, tái cấu trúc thị trường bảo hiểm thời gian qua đã tạo ra những thay đổi mang tính căn bản trong cách các doanh nghiệp bảo hiểm vận hành, trong đó có MB Life. Trọng tâm xuyên suốt của các thay đổi này là nâng cao tính minh bạch, chuẩn mực và đặt quyền lợi hợp pháp của khách hàng ở vị trí trung tâm.

"Nếu 2025 là năm thanh lọc thị trường, tập trung xử lý các tồn đọng pháp lý và chuyển đổi sản phẩm, có thể khiến doanh thu khai thác mới tăng trưởng chậm lại ở một số phân khúc, thì năm 2026 được dự báo là năm bùng nổ trở lại, với mục tiêu tăng trưởng hai chữ số nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế vĩ mô và nền tảng thị trường đã được củng cố về mặt pháp lý và niềm tin" - đại diện MB Life kỳ vọng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80