Qua “nốt trầm”, thị trường bảo hiểm tái lập quỹ đạo tăng trưởng

Tú Anh
(TBTCO) - Qua những "nốt trầm", thị trường bảo hiểm năm 2025 thiết lập lại quỹ đạo tăng trưởng mới, với tổng doanh thu phí hơn 237.000 tỷ đồng, tăng 3,96% so với năm 2024. Điểm sáng của bức tranh hồi phục không chỉ nằm ở những con số bứt phá của nhiều doanh nghiệp cả hai khối nhân thọ và phi nhân thọ, mà còn ở sự chuyển mình về chất, mở ra chu kỳ phát triển mới đầy triển vọng.
aa

Sức bật trở lại mạnh mẽ

Những ngày tất bật cuối năm 2025, Tập đoàn Bảo hiểm DBV rộn ràng khai trương loạt chi nhánh mới tại Thái Nguyên, Hải Phòng, đánh dấu bước “phủ sóng” mạnh mẽ. Đây không chỉ là sự mở rộng về mạng lưới hoạt động, mà còn là dấu ấn trên hành trình tái định vị thương hiệu, chuyển mình từ Bảo hiểm Hàng không (VNI) sang diện mạo mới, vị thế mới.

Mỗi cánh cửa chi nhánh mở ra, cũng là lúc DBV tiếp tục ghi thêm dấu ấn một năm 2025 đầy tự hào, với doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt đỉnh lịch sử, cán mốc 4.000 tỷ đồng ngày 30/12, cùng tốc độ tăng trưởng vượt trội 5 năm gần đây, khẳng định nội lực bứt phá và nền tảng vững chắc cho chặng đường phát triển mới.

Qua “nốt trầm”, thị trường bảo hiểm tái lập quỹ đạo tăng trưởng
Thị trường bảo hiểm năm 2025 tăng trưởng toàn diện các chỉ tiêu, với tổng doanh thu phí ước đạt 237.211 tỷ đồng, tăng 3,96% so với năm 2024. Ảnh tư liệu

Ở mảng nhân thọ, Bảo hiểm nhân thọ BIDV Metlife cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng khi xét theo doanh thu từng năm. Theo số liệu từ kênh bán bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance), năm 2025 đánh dấu bước nhảy vọt ngoạn mục khi đạt 911 tỷ đồng, tăng hơn 55%, khẳng định sức bật mạnh mẽ của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức.

Tính đến hết tháng 10, BIDV Metlife phát hành hơn 67.400 hợp đồng mới, đạt 846 tỷ đồng APE (phí bảo hiểm quy năm), liên tục giữ vị trí nhóm dẫn đầu trên thị trường bancassurance.

Bà Elena Butarova - Phó Chủ tịch cấp cao MetLife châu Á, Tổng Giám đốc BIDV MetLife cho biết, những thành quả này có được nhờ sự hợp tác chặt chẽ với BIDV, cùng nỗ lực không ngừng của đội ngũ mang đến giải pháp bảo hiểm tối ưu cho khách hàng.

"Tuy nhiên, điều khiến chúng tôi tự hào nhất không phải là các con số tăng trưởng, mà là sự tin tưởng bền bỉ mà khách hàng dành cho BIDV MetLife trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức" - bà Elena Butarova bày tỏ.

Những kết quả này cho thấy, khách hàng ngày càng chủ động quay trở lại với bảo hiểm, phản ánh niềm tin vào chất lượng tư vấn, tính minh bạch trong vận hành và cam kết chi trả của doanh nghiệp, những giá trị mà BIDV MetLife kiên định theo đuổi.

Chuẩn hóa năng lực đội ngũ, niềm tin bền bỉ trao đi

Để đạt được nhiều dấu ấn năm qua, Tổng Giám đốc Elena Butarova chia sẻ, BIDV MetLife liên tục đào tạo và chuẩn hóa năng lực đội ngũ. Đây là nền tảng cốt lõi được BIDV MetLife duy trì xuyên suốt nhiều năm, áp dụng trên toàn hệ thống và ở tất cả các khâu vận hành. Vì vậy, các yêu cầu mới của thị trường và cơ quan quản lý không tạo áp lực thay đổi đột ngột, mà được tiếp cận một cách chủ động và tự nhiên.

“Gạn đục, khơi trong” đem lại nhiều cơ hội

“Đối với ngành bảo hiểm nhân thọ nói chung và BIDV MetLife nói riêng, giai đoạn chuẩn hóa và tái cấu trúc đem tới nhiều cơ hội hơn là những thách thức. Trong đó, những nghị định, tiêu chuẩn mới cũng là cách để các doanh nghiệp bảo hiểm “gạn đục, khơi trong”, củng cố lại niềm tin với khách hàng trong toàn bộ các khâu, từ tư vấn cho tới thẩm định, chi trả”.

Bà Elena Butarova - Phó Chủ tịch cấp cao MetLife châu Á, Tổng Giám đốc BIDV MetLife

“Chúng tôi xem đây là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm khách hàng dài hạn theo hướng rõ ràng hơn, sát nhu cầu hơn và thực chất hơn, để khách hàng có thể thực sự tin rằng hợp đồng bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đồng hành cùng họ trước mọi khó khăn” - bà Elena Butarova nhấn mạnh.

Về mặt sản phẩm, dịch vụ, trong năm 2025, BIDV MetLife ra mắt hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ hoàn toàn mới, đem tới các sản phẩm bảo hiểm liên kết chung đóng phí định kỳ, đóng phí một lần phù hợp hơn với quy định hiện hành, đáp ứng tốt nhu cầu bảo vệ của khách hàng Việt. Công ty cũng ra mắt gói dịch vụ An thể chất - Vững tương lai, đây là gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện nhất từ trước tới nay.

Sự chuyển dịch có chiều sâu trong sản phẩm, song song với quá trình chuẩn hóa năng lực đội ngũ cũng trở thành yếu tố then chốt tạo nên kết quả tăng trưởng của Bảo hiểm DBV trong năm 2025. "DBV không chạy theo doanh thu bằng mọi giá, mà tập trung vào những nghiệp vụ cốt lõi, tập trung vào hoàn thiện trải nghiệm khách hàng và tối ưu năng lực vận hành" - lãnh đạo DBV nhấn mạnh.

Doanh nghiệp khẳng định nội lực, tạo đà tăng trưởng toàn thị trường

Những chỉ số tăng trưởng ấn tượng không chỉ khẳng định nội lực vững vàng của doanh nghiệp, mà còn tái thiết lập đà hồi phục và định hình lại quỹ đạo đi lên toàn thị trường bảo hiểm.

Vượt qua “nốt trầm” tăng trưởng của năm trước, thị trường bảo hiểm năm 2025 tăng trưởng toàn diện các chỉ tiêu, với tổng doanh thu phí ước đạt 237.211 tỷ đồng, tăng 3,96% so với năm 2024; trong đó, hai trụ cột là bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ lần lượt đóng góp 148.786 tỷ đồng và 88.425 tỷ đồng. Bảo hiểm tiếp tục là tấm lá chắn tài chính tin cậy thông qua việc chi trả quyền lợi lên tới 91.845 tỷ đồng, tăng mạnh 13,52%, đây là minh chứng rõ ràng nhất cho cam kết bảo vệ khách hàng trước rủi ro.

Vững chất lượng cốt lõi cho tăng trưởng bền vững

“Việc DBV thay đổi cách quản trị rủi ro và danh mục nghiệp vụ giúp lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm cải thiện rõ ràng. Chúng tôi ứng dụng công nghệ để tối ưu chi phí vận hành, tập trung phát triển nghiệp vụ có hiệu quả cao, đồng thời ứng dụng dữ liệu để định phí sát thực tế hơn. Nhờ đó, biên lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm cải thiện đáng kể, không phụ thuộc quá nhiều vào lợi nhuận tài chính như trước. Điều này cho thấy DBV đang từng bước lấy lại “chất lượng cốt lõi” của doanh nghiệp bảo hiểm, thay vì tăng trưởng dựa trên yếu tố ngắn hạn”.

Ông Phạm Huy Khiêm - Phó Tổng giám đốc DBV

Theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 10 tháng 2025 ghi nhận sự sôi động với những gam màu ấn tượng. Trong khi PVI giữ vững ngôi vương thị phần (17,69%) với doanh thu 12.749 tỷ đồng, các doanh nghiệp như: Tasco hay OPES bứt phá với mức tăng lần lượt 196,5% và 100,07%...

Tổng doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới toàn thị trường nhân thọ 10 tháng đạt hơn 19.483 tỷ đồng, với sự thay đổi đáng kể về thị phần. Theo đó, Bảo Việt Nhân thọ chi phối 21,7% thị phần. Top 10 chứng kiến sự cạnh tranh của các tên tuổi lớn như: Dai-ichi (12,3%); AIA (12,1%); Manulife (7,9%), Prudential (7,3%), MB Life (6,5%); BIDV MetLife (4,3%)...

Theo đánh giá của TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế, kết quả kinh doanh của khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khá tích cực, với đà tăng trưởng ổn định ở cả doanh thu và lợi nhuận, dù toàn thị trường bảo hiểm có dấu hiệu chững lại ở một số khía cạnh. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng độ phủ thị trường nhằm duy trì đà tăng trưởng bền vững.

Hòa nhịp cùng những chuyển động nội tại của khối bảo hiểm, thị trường đang đón nhận" luồng sinh khí" mới khi các ngân hàng quay trở lại mạnh mẽ, tăng tốc thành lập công ty con trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào mô hình hợp tác truyền thống. Chiến lược này cho phép các nhà băng khai thác hiệu quả hơn dữ liệu khách hàng, đẩy mạnh bán chéo sản phẩm và tối ưu nguồn thu ngoài lãi.

Tú Anh

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80