Hệ thống các định chế tài chính phát triển tại châu Phi và những kinh nghiệm cho Việt Nam

(TBTCO) - Trong bối cảnh toàn cầu đối mặt với những thách thức đan xen về tăng trưởng chậm lại, biến đổi khí hậu và bất ổn tài chính, nhu cầu về các nguồn vốn dài hạn, ổn định và có định hướng phát triển ngày càng trở nên cấp thiết. Đối với châu Phi, nơi có tốc độ gia tăng dân số nhanh, nhu cầu hạ tầng lớn nhưng khả năng tích lũy nội tại còn hạn chế, vai trò của các định chế tài chính phát triển đặc biệt nổi bật. Thực tiễn xây dựng và vận hành hệ sinh thái tài chính phát triển đa tầng tại châu Phi không chỉ góp phần thu hẹp khoảng cách hạ tầng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà còn mang lại nhiều kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững.
aa

Hệ sinh thái định chế phát triển đa tầng tại châu Phi

Một đặc điểm nổi bật của châu Phi là cấu trúc định chế phát triển được thiết kế theo nhiều cấp độ, từ châu lục, khu vực đến quốc gia, tạo thành một hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh.

Ở cấp châu lục, trung tâm của hệ thống là Ngân hàng Phát triển châu Phi (AfDB), định chế tài chính đa phương được thành lập năm 1964. Với hơn 80 quốc gia thành viên, AfDB đóng vai trò đầu tàu trong huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển châu Phi. Nhờ duy trì xếp hạng tín nhiệm cao trên thị trường vốn quốc tế, AfDB có thể phát hành trái phiếu với chi phí thấp, từ đó cung cấp các khoản vay trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng, nông nghiệp và hội nhập khu vực.

Hệ thống các định chế tài chính phát triển tại châu Phi và những kinh nghiệm cho Việt Nam

AfDB là trung tâm của hệ thống các định chế phát triển châu Phi. Nguồn: AfDB

Song song với AfDB là Quỹ Phát triển châu Phi (ADF), cửa sổ tài chính ưu đãi dành cho các quốc gia thu nhập thấp. ADF cung cấp vốn vay lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài, qua đó hỗ trợ các nước nghèo giảm áp lực nợ và đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng cơ bản.

Một cấu phần đáng chú ý khác là Africa50, nền tảng đầu tư được thành lập với mục tiêu thu hút vốn tư nhân vào hạ tầng. Khác với mô hình ngân hàng phát triển truyền thống, Africa50 hoạt động theo định hướng thương mại, tập trung vào chuẩn bị dự án và cấu trúc tài chính nhằm nâng cao tính khả thi và hấp dẫn của các dự án đối với nhà đầu tư tư nhân.

Ở cấp khu vực, các ngân hàng phát triển như Ngân hàng Phát triển Tây Phi (BOAD), Ngân hàng Phát triển Đông Phi (EADB) và Ngân hàng Phát triển Nam Phi (DBSA) đóng vai trò thúc đẩy liên kết tiểu vùng và tài trợ cho các dự án xuyên biên giới. Ở cấp quốc gia, nhiều nước châu Phi như Nigeria, Kenya hay Nam Phi cũng duy trì các ngân hàng phát triển chuyên biệt nhằm giải quyết các nút thắt nội tại như tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển công nghiệp chế biến hoặc mở rộng tiếp cận tín dụng cho khu vực nông nghiệp.

Cấu trúc đa tầng này giúp phân bổ vai trò rõ ràng: cấp châu lục huy động và điều phối nguồn lực; cấp khu vực thúc đẩy hội nhập; cấp quốc gia xử lý các vấn đề cụ thể. Sự bổ trợ lẫn nhau giữa các tầng nấc góp phần gia tăng hiệu quả sử dụng vốn và mở rộng tác động phát triển.

Huy động vốn dài hạn và cơ chế tài chính hỗn hợp

Một trong những thách thức lớn nhất của châu Phi là thiếu hụt nguồn vốn dài hạn cho hạ tầng. Theo nhiều ước tính quốc tế, khoảng cách tài chính hạ tầng của châu Phi lên tới hàng chục tỷ USD mỗi năm. Trong bối cảnh thị trường tài chính nội địa còn kém phát triển, kỳ hạn vốn ngắn và chi phí cao, vai trò của các định chế phát triển trở nên then chốt.

AfDB và các định chế khu vực đã triển khai nhiều công cụ tài chính đa dạng, từ cho vay ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, đồng tài trợ (co-finance) đến cơ chế tài chính hỗn hợp (blended finance). Cơ chế này kết hợp vốn ưu đãi với vốn thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng sức hấp dẫn của dự án đối với nhà đầu tư tư nhân. Thông qua việc cung cấp nguồn vốn ban đầu và bảo lãnh một phần rủi ro, các định chế phát triển có thể tạo hiệu ứng đòn bẩy lớn, thu hút thêm nguồn lực từ thị trường.

Hệ thống các định chế tài chính phát triển tại châu Phi và những kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ hợp điện mặt trời Noor tại Morocco. Nguồn: ecohz.com

Mô hình Africa50 đặc biệt chú trọng đến khâu chuẩn bị dự án, một nút thắt phổ biến tại các quốc gia đang phát triển. Việc thiếu nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật và cấu trúc tài chính rõ ràng khiến nhiều dự án không thể tiếp cận nguồn vốn thương mại. Bằng cách đầu tư vào giai đoạn tiền khả thi và cấu trúc giao dịch, Africa50 góp phần rút ngắn thời gian triển khai và nâng cao tính khả thi của dự án.

Vai trò trong phát triển bền vững

Các định chế phát triển châu Phi có vai trò tiên phong trong các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, thời gian hoàn vốn dài và khó thu hút vốn thương mại.

Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, tổ hợp điện mặt trời Noor tại Morocco là một trong những dự án điện mặt trời tập trung lớn nhất thế giới, được tài trợ bởi AfDB cùng nhiều đối tác quốc tế, góp phần nâng cao tỷ trọng năng lượng sạch và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Bên cạnh đó, sáng kiến “Desert to Power” do AfDB khởi xướng đặt mục tiêu phát triển 10 GW điện mặt trời tại khu vực Sahel, hướng tới cung cấp điện cho khoảng 250 triệu người vào năm 2030.

Trong lĩnh vực hạ tầng, các dự án hành lang giao thông xuyên biên giới như Lobito (Angola - Zambia - CHDC Congo) hay Hành lang Bắc - Nam tại Đông Phi có ý nghĩa chiến lược trong giảm chi phí logistics, mở rộng thương mại nội khối và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực. Bên cạnh năng lượng, các định chế phát triển còn tài trợ các dự án thích ứng biến đổi khí hậu, quản lý nguồn nước, phát triển nông nghiệp bền vững và hạ tầng đô thị xanh.

Điểm chung của các dự án này là sự tham gia của định chế phát triển trong vai trò cung cấp vốn ban đầu, bảo lãnh rủi ro và hỗ trợ kỹ thuật từ giai đoạn chuẩn bị dự án đến huy động vốn đồng tài trợ. Cơ chế tài chính hỗn hợp giúp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư tư nhân, qua đó tạo hiệu ứng đòn bẩy đáng kể đối với nguồn lực xã hội.

Thách thức về quản trị và bền vững tài chính

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, hệ thống định chế phát triển tại châu Phi cũng đối mặt với các thách thức đáng kể. Áp lực nợ công gia tăng tại nhiều quốc gia làm giảm dư địa vay nợ. Rủi ro tín dụng, biến động tỷ giá và môi trường kinh tế - chính trị phức tạp có thể ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của ngân hàng phát triển.

Một số bài học cho thấy, nếu thiếu cơ chế quản trị minh bạch và kiểm soát rủi ro hiệu quả, định chế phát triển có thể rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính. Do đó, việc duy trì xếp hạng tín nhiệm quốc tế, tuân thủ chuẩn mực quản trị hiện đại và tăng cường đánh giá tác động phát triển là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính bền vững.

Gợi mở chính sách cho Việt Nam

Ở nhiều khía cạnh, bối cảnh phát triển của châu Phi có những điểm tương đồng với Việt Nam hiện nay: nhu cầu lớn về vốn trung và dài hạn cho hạ tầng và năng lượng, yêu cầu duy trì tăng trưởng đi đôi với phát triển bền vững, cùng áp lực thích ứng với biến đổi khí hậu. Thị trường tài chính trong nước ở cả hai trường hợp vẫn còn hạn chế về chiều sâu, đặc biệt trong cung ứng vốn dài hạn cho các dự án quy mô lớn. Chính những điểm tương đồng này khiến kinh nghiệm của châu Phi trở nên có giá trị tham khảo đối với Việt Nam, cho thấy được một số định hướng quan trọng.

Hệ thống các định chế tài chính phát triển tại châu Phi và những kinh nghiệm cho Việt Nam

Phát triển kinh tế bền vững là một trong những ưu tiên hàng đầu tại châu Phi. Nguồn: bytheeast.com

Thứ nhất, cần khẳng định vai trò của định chế tài chính phát triển trong cung cấp vốn trung và dài hạn cho các lĩnh vực chiến lược mà khu vực thương mại chưa sẵn sàng tham gia. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn, năng lượng tái tạo và thích ứng biến đổi khí hậu.

Thứ hai, đa dạng hóa công cụ tài chính và áp dụng cơ chế tài chính hỗn hợp là hướng đi cần thiết nhằm gia tăng đòn bẩy vốn nhà nước. Trong bối cảnh nguồn vốn ODA ưu đãi có xu hướng giảm, việc thu hút nguồn lực tư nhân và quốc tế thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro sẽ giúp mở rộng quy mô đầu tư.

Thứ ba, nâng cao năng lực quản trị, quản lý rủi ro và đánh giá tác động phát triển là điều kiện tiên quyết để bảo đảm an toàn tài chính. Định chế phát triển cần duy trì sự cân bằng giữa mục tiêu chính sách và nguyên tắc tài chính, tránh dàn trải nguồn lực và tích tụ rủi ro.

Thứ tư, gắn kết hoạt động tài trợ với các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao uy tín quốc tế.

Cuối cùng, mở rộng hợp tác quốc tế và hợp tác với các khu vực đang phát triển như châu Phi sẽ tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm và tiếp cận các nguồn vốn mới trong bối cảnh cấu trúc tài chính toàn cầu đang thay đổi./.

Hệ thống định chế tài chính phát triển tại châu Phi cho thấy, trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển đầy đủ và nhu cầu đầu tư hạ tầng lớn, vai trò của ngân hàng phát triển là không thể thay thế. Thông qua huy động vốn dài hạn, chia sẻ rủi ro và hỗ trợ chính sách, các định chế này góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững. Đối với Việt Nam, trong giai đoạn chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và hội nhập sâu rộng, việc phát huy hiệu quả vai trò của định chế tài chính phát triển sẽ là một trong những yếu tố then chốt để huy động nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn.

Nguyễn Minh Nghĩa - Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80