Hệ thống các định chế tài chính phát triển tại châu Phi và những kinh nghiệm cho Việt Nam

(TBTCO) - Trong bối cảnh toàn cầu đối mặt với những thách thức đan xen về tăng trưởng chậm lại, biến đổi khí hậu và bất ổn tài chính, nhu cầu về các nguồn vốn dài hạn, ổn định và có định hướng phát triển ngày càng trở nên cấp thiết. Đối với châu Phi, nơi có tốc độ gia tăng dân số nhanh, nhu cầu hạ tầng lớn nhưng khả năng tích lũy nội tại còn hạn chế, vai trò của các định chế tài chính phát triển đặc biệt nổi bật. Thực tiễn xây dựng và vận hành hệ sinh thái tài chính phát triển đa tầng tại châu Phi không chỉ góp phần thu hẹp khoảng cách hạ tầng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà còn mang lại nhiều kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững.
aa

Hệ sinh thái định chế phát triển đa tầng tại châu Phi

Một đặc điểm nổi bật của châu Phi là cấu trúc định chế phát triển được thiết kế theo nhiều cấp độ, từ châu lục, khu vực đến quốc gia, tạo thành một hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh.

Ở cấp châu lục, trung tâm của hệ thống là Ngân hàng Phát triển châu Phi (AfDB), định chế tài chính đa phương được thành lập năm 1964. Với hơn 80 quốc gia thành viên, AfDB đóng vai trò đầu tàu trong huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển châu Phi. Nhờ duy trì xếp hạng tín nhiệm cao trên thị trường vốn quốc tế, AfDB có thể phát hành trái phiếu với chi phí thấp, từ đó cung cấp các khoản vay trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng, nông nghiệp và hội nhập khu vực.

Hệ thống các định chế tài chính phát triển tại châu Phi và những kinh nghiệm cho Việt Nam

AfDB là trung tâm của hệ thống các định chế phát triển châu Phi. Nguồn: AfDB

Song song với AfDB là Quỹ Phát triển châu Phi (ADF), cửa sổ tài chính ưu đãi dành cho các quốc gia thu nhập thấp. ADF cung cấp vốn vay lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài, qua đó hỗ trợ các nước nghèo giảm áp lực nợ và đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng cơ bản.

Một cấu phần đáng chú ý khác là Africa50, nền tảng đầu tư được thành lập với mục tiêu thu hút vốn tư nhân vào hạ tầng. Khác với mô hình ngân hàng phát triển truyền thống, Africa50 hoạt động theo định hướng thương mại, tập trung vào chuẩn bị dự án và cấu trúc tài chính nhằm nâng cao tính khả thi và hấp dẫn của các dự án đối với nhà đầu tư tư nhân.

Ở cấp khu vực, các ngân hàng phát triển như Ngân hàng Phát triển Tây Phi (BOAD), Ngân hàng Phát triển Đông Phi (EADB) và Ngân hàng Phát triển Nam Phi (DBSA) đóng vai trò thúc đẩy liên kết tiểu vùng và tài trợ cho các dự án xuyên biên giới. Ở cấp quốc gia, nhiều nước châu Phi như Nigeria, Kenya hay Nam Phi cũng duy trì các ngân hàng phát triển chuyên biệt nhằm giải quyết các nút thắt nội tại như tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển công nghiệp chế biến hoặc mở rộng tiếp cận tín dụng cho khu vực nông nghiệp.

Cấu trúc đa tầng này giúp phân bổ vai trò rõ ràng: cấp châu lục huy động và điều phối nguồn lực; cấp khu vực thúc đẩy hội nhập; cấp quốc gia xử lý các vấn đề cụ thể. Sự bổ trợ lẫn nhau giữa các tầng nấc góp phần gia tăng hiệu quả sử dụng vốn và mở rộng tác động phát triển.

Huy động vốn dài hạn và cơ chế tài chính hỗn hợp

Một trong những thách thức lớn nhất của châu Phi là thiếu hụt nguồn vốn dài hạn cho hạ tầng. Theo nhiều ước tính quốc tế, khoảng cách tài chính hạ tầng của châu Phi lên tới hàng chục tỷ USD mỗi năm. Trong bối cảnh thị trường tài chính nội địa còn kém phát triển, kỳ hạn vốn ngắn và chi phí cao, vai trò của các định chế phát triển trở nên then chốt.

AfDB và các định chế khu vực đã triển khai nhiều công cụ tài chính đa dạng, từ cho vay ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, đồng tài trợ (co-finance) đến cơ chế tài chính hỗn hợp (blended finance). Cơ chế này kết hợp vốn ưu đãi với vốn thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng sức hấp dẫn của dự án đối với nhà đầu tư tư nhân. Thông qua việc cung cấp nguồn vốn ban đầu và bảo lãnh một phần rủi ro, các định chế phát triển có thể tạo hiệu ứng đòn bẩy lớn, thu hút thêm nguồn lực từ thị trường.

Hệ thống các định chế tài chính phát triển tại châu Phi và những kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ hợp điện mặt trời Noor tại Morocco. Nguồn: ecohz.com

Mô hình Africa50 đặc biệt chú trọng đến khâu chuẩn bị dự án, một nút thắt phổ biến tại các quốc gia đang phát triển. Việc thiếu nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật và cấu trúc tài chính rõ ràng khiến nhiều dự án không thể tiếp cận nguồn vốn thương mại. Bằng cách đầu tư vào giai đoạn tiền khả thi và cấu trúc giao dịch, Africa50 góp phần rút ngắn thời gian triển khai và nâng cao tính khả thi của dự án.

Vai trò trong phát triển bền vững

Các định chế phát triển châu Phi có vai trò tiên phong trong các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, thời gian hoàn vốn dài và khó thu hút vốn thương mại.

Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, tổ hợp điện mặt trời Noor tại Morocco là một trong những dự án điện mặt trời tập trung lớn nhất thế giới, được tài trợ bởi AfDB cùng nhiều đối tác quốc tế, góp phần nâng cao tỷ trọng năng lượng sạch và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Bên cạnh đó, sáng kiến “Desert to Power” do AfDB khởi xướng đặt mục tiêu phát triển 10 GW điện mặt trời tại khu vực Sahel, hướng tới cung cấp điện cho khoảng 250 triệu người vào năm 2030.

Trong lĩnh vực hạ tầng, các dự án hành lang giao thông xuyên biên giới như Lobito (Angola - Zambia - CHDC Congo) hay Hành lang Bắc - Nam tại Đông Phi có ý nghĩa chiến lược trong giảm chi phí logistics, mở rộng thương mại nội khối và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực. Bên cạnh năng lượng, các định chế phát triển còn tài trợ các dự án thích ứng biến đổi khí hậu, quản lý nguồn nước, phát triển nông nghiệp bền vững và hạ tầng đô thị xanh.

Điểm chung của các dự án này là sự tham gia của định chế phát triển trong vai trò cung cấp vốn ban đầu, bảo lãnh rủi ro và hỗ trợ kỹ thuật từ giai đoạn chuẩn bị dự án đến huy động vốn đồng tài trợ. Cơ chế tài chính hỗn hợp giúp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư tư nhân, qua đó tạo hiệu ứng đòn bẩy đáng kể đối với nguồn lực xã hội.

Thách thức về quản trị và bền vững tài chính

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, hệ thống định chế phát triển tại châu Phi cũng đối mặt với các thách thức đáng kể. Áp lực nợ công gia tăng tại nhiều quốc gia làm giảm dư địa vay nợ. Rủi ro tín dụng, biến động tỷ giá và môi trường kinh tế - chính trị phức tạp có thể ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của ngân hàng phát triển.

Một số bài học cho thấy, nếu thiếu cơ chế quản trị minh bạch và kiểm soát rủi ro hiệu quả, định chế phát triển có thể rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính. Do đó, việc duy trì xếp hạng tín nhiệm quốc tế, tuân thủ chuẩn mực quản trị hiện đại và tăng cường đánh giá tác động phát triển là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính bền vững.

Gợi mở chính sách cho Việt Nam

Ở nhiều khía cạnh, bối cảnh phát triển của châu Phi có những điểm tương đồng với Việt Nam hiện nay: nhu cầu lớn về vốn trung và dài hạn cho hạ tầng và năng lượng, yêu cầu duy trì tăng trưởng đi đôi với phát triển bền vững, cùng áp lực thích ứng với biến đổi khí hậu. Thị trường tài chính trong nước ở cả hai trường hợp vẫn còn hạn chế về chiều sâu, đặc biệt trong cung ứng vốn dài hạn cho các dự án quy mô lớn. Chính những điểm tương đồng này khiến kinh nghiệm của châu Phi trở nên có giá trị tham khảo đối với Việt Nam, cho thấy được một số định hướng quan trọng.

Hệ thống các định chế tài chính phát triển tại châu Phi và những kinh nghiệm cho Việt Nam

Phát triển kinh tế bền vững là một trong những ưu tiên hàng đầu tại châu Phi. Nguồn: bytheeast.com

Thứ nhất, cần khẳng định vai trò của định chế tài chính phát triển trong cung cấp vốn trung và dài hạn cho các lĩnh vực chiến lược mà khu vực thương mại chưa sẵn sàng tham gia. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn, năng lượng tái tạo và thích ứng biến đổi khí hậu.

Thứ hai, đa dạng hóa công cụ tài chính và áp dụng cơ chế tài chính hỗn hợp là hướng đi cần thiết nhằm gia tăng đòn bẩy vốn nhà nước. Trong bối cảnh nguồn vốn ODA ưu đãi có xu hướng giảm, việc thu hút nguồn lực tư nhân và quốc tế thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro sẽ giúp mở rộng quy mô đầu tư.

Thứ ba, nâng cao năng lực quản trị, quản lý rủi ro và đánh giá tác động phát triển là điều kiện tiên quyết để bảo đảm an toàn tài chính. Định chế phát triển cần duy trì sự cân bằng giữa mục tiêu chính sách và nguyên tắc tài chính, tránh dàn trải nguồn lực và tích tụ rủi ro.

Thứ tư, gắn kết hoạt động tài trợ với các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao uy tín quốc tế.

Cuối cùng, mở rộng hợp tác quốc tế và hợp tác với các khu vực đang phát triển như châu Phi sẽ tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm và tiếp cận các nguồn vốn mới trong bối cảnh cấu trúc tài chính toàn cầu đang thay đổi./.

Hệ thống định chế tài chính phát triển tại châu Phi cho thấy, trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển đầy đủ và nhu cầu đầu tư hạ tầng lớn, vai trò của ngân hàng phát triển là không thể thay thế. Thông qua huy động vốn dài hạn, chia sẻ rủi ro và hỗ trợ chính sách, các định chế này góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững. Đối với Việt Nam, trong giai đoạn chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và hội nhập sâu rộng, việc phát huy hiệu quả vai trò của định chế tài chính phát triển sẽ là một trong những yếu tố then chốt để huy động nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn.

Nguyễn Minh Nghĩa - Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 16,520
Kim TT/AVPL 16,220 16,520
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 16,520
Nguyên Liệu 99.99 15,240 15,440
Nguyên Liệu 99.9 15,190 15,390
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 16,420
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 16,370
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 16,350
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 165,200
Hà Nội - PNJ 162,200 165,200
Đà Nẵng - PNJ 162,200 165,200
Miền Tây - PNJ 162,200 165,200
Tây Nguyên - PNJ 162,200 165,200
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 165,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 16,520
Miếng SJC Nghệ An 16,220 16,520
Miếng SJC Thái Bình 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 16,520
NL 99.90 15,070
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120
Trang sức 99.9 15,710 16,410
Trang sức 99.99 15,720 16,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 16,522
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 16,523
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 1,647
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 1,648
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cập nhật: 12/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80