Cơ hội để Việt Nam nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu

Thảo Miên
(TBTCO) - Xu hướng gia tăng tỷ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam đang trở nên rõ nét hơn trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, năng lực của các nhà cung ứng nội địa vẫn là yếu tố then chốt quyết định khả năng Việt Nam chuyển từ cứ điểm sản xuất sang trung tâm công nghiệp có giá trị gia tăng cao trong khu vực.
aa

Tỷ lệ nội địa hóa tiếp tục duy trì xu hướng tích cực

Khảo sát doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài năm tài chính 2025 do Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (Jetro) thực hiện cho thấy, Việt Nam tiếp tục là một trong những điểm đến sản xuất hấp dẫn nhất tại ASEAN, không chỉ nhờ chi phí cạnh tranh, mà còn nhờ khả năng hình thành chuỗi cung ứng tại chỗ.

Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ thu mua nội địa của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam đạt 38,1%, tăng 1,5 điểm phần trăm so với năm 2024, trong khi tỷ lệ thu mua trực tiếp từ doanh nghiệp Việt Nam đạt 18,3% - mức cao nhất kể từ khi khảo sát được tiến hành. Đây là tín hiệu đáng chú ý bởi trong nhiều năm trước, phần lớn hoạt động thu mua nội địa của doanh nghiệp Nhật Bản diễn ra giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việc tỷ trọng mua từ doanh nghiệp Việt Nam tăng lên phản ánh, chuỗi cung ứng nội địa đang dần hình thành theo chiều sâu.

Cơ hội để Việt Nam nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu
Sản xuất xe máy điện của Nhà máy Honda Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh

Xu hướng này gắn liền với chiến lược đa dạng hóa nguồn cung của các tập đoàn Nhật Bản sau đại dịch Covid-19 và biến động địa chính trị toàn cầu. Thay vì phụ thuộc vào một trung tâm sản xuất duy nhất, doanh nghiệp Nhật Bản tăng cường mô hình “sản xuất tại chỗ - cung ứng tại chỗ”. Đáng chú ý, 49,4% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho biết sẽ mở rộng thu mua nội địa trong 1 - 2 năm tới, tỷ lệ gần như duy trì ổn định so với năm trước, cho thấy nội địa hóa đã trở thành định hướng dài hạn thay vì giải pháp tạm thời.

Chia sẻ với phóng viên TBTCVN, ông Ozasa Haruhiko - Trưởng Đại diện Jetro tại Hà Nội cho biết, cung ứng nội địa tại Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể. Hằng năm, Jetro đều tổ chức triển lãm công nghiệp hỗ trợ để thúc đẩy hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam. Khi làm việc với các doanh nghiệp Nhật Bản là bên mua, Jetro nhận được phản hồi tích cực về tỷ lệ nội địa hóa, với đánh giá năng lực cung ứng của các doanh nghiệp Việt Nam đã cải thiện đáng kể.

Việt Nam không chỉ là nơi sản xuất

Trưởng Đại diện Jetro tại Hà Nội - ông Ozasa Haruhiko cho biết, nếu như trước đây, các nhà đầu tư chỉ nhìn nhận Việt Nam là địa chỉ sản xuất, thì nay đã có sự thay đổi. Doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá Việt Nam không chỉ là nơi sản xuất, mà còn là thị trường tiêu thụ và tập trung vào thị trường nội địa.

Một điểm đáng chú ý từ khảo sát của Jetro là Việt Nam ngày càng được đánh giá cao trong chiến lược sản xuất khu vực của doanh nghiệp Nhật Bản. Tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản dự kiến mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trong 1 - 2 năm tới đạt 56,9% - mức cao nhất ASEAN trong 2 năm liên tiếp. Điều này phản ánh niềm tin dài hạn của nhà đầu tư Nhật Bản đối với môi trường sản xuất tại Việt Nam.

Các yếu tố hấp dẫn đầu tư hàng đầu gồm: quy mô thị trường và tiềm năng tăng trưởng (68,4%); chi phí nhân công cạnh tranh (55,2%); môi trường chính trị - xã hội ổn định (53,2%). Những lợi thế này tạo điều kiện để doanh nghiệp Nhật Bản mở rộng mạng lưới nhà cung ứng nội địa, thay vì duy trì chuỗi cung ứng xuyên biên giới tốn kém chi phí.

Song song đó, tỷ trọng xuất khẩu trong doanh thu của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam hiện đạt 48%, giảm so với mức 56,2% năm 2015. Ngày càng nhiều doanh nghiệp chuyển sang phục vụ thị trường nội địa và khu vực. Xu hướng này càng thúc đẩy nhu cầu phát triển hệ sinh thái cung ứng tại Việt Nam.

Cơ hội để doanh nghiệp Việt “nâng hạng” trong chuỗi giá trị

Khảo sát của Jetro cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đã có bước tiến nhất định trong việc tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp Nhật Bản. Trong ngành phi chế tạo, doanh nghiệp nội địa hiện là đối thủ cạnh tranh lớn nhất với tỷ lệ 37,5%, cao hơn doanh nghiệp Nhật Bản và doanh nghiệp Trung Quốc. Năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ sản xuất, thương mại và phân phối đang được cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, trong lĩnh vực chế tạo - khu vực quyết định giá trị gia tăng của nền kinh tế - các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn đánh giá chuỗi cung ứng nội địa còn nhiều hạn chế. Ba rào cản lớn nhất khi thu mua tại Việt Nam gồm: thiếu nhà cung cấp nguyên vật liệu tại địa phương; năng lực kỹ thuật và chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng tiêu chuẩn; độ ổn định trong cung ứng còn hạn chế.

Áp lực cạnh tranh thúc đẩy nâng cấp chuỗi cung ứng

Trong số các doanh nghiệp Nhật Bản tham gia khảo sát của Jetro, khoảng 30,8% cho rằng, doanh nghiệp Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh lớn nhất, tiếp theo là doanh nghiệp nội địa (20,4%). Sự hiện diện ngày càng lớn của doanh nghiệp Trung Quốc và các nhà đầu tư châu Á đang tạo áp lực nâng cấp năng lực đối với cả doanh nghiệp Nhật Bản và doanh nghiệp Việt Nam.

Ở góc độ tích cực, sự cạnh tranh này buộc chuỗi cung ứng tại Việt Nam phải cải thiện nhanh hơn về chất lượng, chi phí và tốc độ giao hàng - những yếu tố cốt lõi để tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.

Đặc biệt, các ngành công nghệ cao như linh kiện điện tử, thiết bị chính xác hay hóa chất vẫn phụ thuộc mạnh vào nhập khẩu trung gian. Điều này lý giải vì sao tỷ lệ nội địa hóa tại Việt Nam dù cải thiện, nhưng vẫn thấp hơn các trung tâm công nghiệp lâu năm trong khu vực. Theo ông Ozasa Haruhiko, đây là những điều mà Việt Nam cần tích cực cải thiện trong thời gian tới để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Nhật Bản nói riêng và chuỗi cung ứng toàn cầu nói chung.

Theo kết quả khảo sát, doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam đang tích cực thực hiện các biện pháp đa dạng hóa nguồn cung, trong đó 31% doanh nghiệp lựa chọn mở rộng mạng lưới cung ứng, hơn 30% tăng doanh số tại thị trường nội địa nhằm giảm phụ thuộc bên ngoài. Điều này mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về kỹ thuật và quản trị.

Còn theo các chuyên gia, giai đoạn hiện nay được xem là “cửa sổ cơ hội hiếm có” để Việt Nam nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu khi các tập đoàn Nhật Bản đang chủ động tìm kiếm nhà cung ứng mới tại chỗ. Tuy nhiên, để chuyển từ tham gia sang dẫn dắt một phần chuỗi cung ứng, Việt Nam cần thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ mạnh mẽ hơn; nâng cao năng lực của doanh nghiệp vừa và nhỏ; thúc đẩy liên kết doanh nghiệp FDI - doanh nghiệp nội địa; hỗ trợ chuyển giao công nghệ và tiêu chuẩn sản xuất.

Sự gia tăng tỷ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp Nhật Bản cho thấy, Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển mới trong thu hút FDI. Nếu trước đây, lợi thế chủ yếu nằm ở chi phí lao động thấp, thì hiện nay năng lực hình thành hệ sinh thái cung ứng nội địa mới là yếu tố quyết định sức hấp dẫn dài hạn.

Trong bối cảnh gần một nửa doanh nghiệp Nhật Bản có kế hoạch mở rộng thu mua nội địa, khả năng nâng cấp chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam sẽ quyết định: Việt Nam tiếp tục là cứ điểm sản xuất hay có thể trở thành trung tâm công nghiệp chiến lược của khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong thập kỷ tới.

Thảo Miên

Đọc thêm

TP. Hồ Chí Minh hướng tới công nghiệp thế hệ mới từ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

TP. Hồ Chí Minh hướng tới công nghiệp thế hệ mới từ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

(TBTCO) - Tại sự kiện Ngày Đổi mới sáng tạo mở (Open Innovation Day 2026) diễn ra ngày 26/10, lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong phát triển công nghiệp thế hệ mới, với trọng tâm là kết nối doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.
Mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hợp tác Việt Nam với EU và Bỉ

Mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hợp tác Việt Nam với EU và Bỉ

(TBTCO) - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tin tưởng rằng, với tầm nhìn chiến lược mới của quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam - Bỉ, với năng lực của doanh nghiệp châu Âu và Bỉ, khát vọng phát triển của Việt Nam, có thể tạo ra một giai đoạn hợp tác mới, gắn kết hơn, hiện đại hơn, bền vững hơn, cân bằng hơn và có giá trị hơn cho nhân dân hai bên.
TP. Hồ Chí Minh hiện thực hóa tầm nhìn phát triển kinh tế biển

TP. Hồ Chí Minh hiện thực hóa tầm nhìn phát triển kinh tế biển

(TBTCO) - Khu vực Cái Mép - Thị Vải đang ngày càng khẳng định vai trò trụ cột kết nối trong không gian phát triển mới của TP. Hồ Chí Minh, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế hướng biển. Cùng với đó là quyết tâm của các bên trong việc thúc đẩy dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, hướng tới hình thành trung tâm trung chuyển container quy mô khu vực, nâng cao vị thế của TP. Hồ Chí Minh trên bản đồ hàng hải quốc tế.
TP.Hồ Chí Minh: Mở rộng cơ hội đầu tư xanh qua kết nối quốc tế

TP.Hồ Chí Minh: Mở rộng cơ hội đầu tư xanh qua kết nối quốc tế

(TBTCO) - Hội nghị Bàn tròn các Thành phố Đối tác Kinh tế (BPC) 2026 tạo cơ hội để TP. Hồ Chí Minh kết nối đối tác quốc tế, huy động vốn và công nghệ cho tăng trưởng xanh. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế, phát triển hạ tầng và chuyển các sáng kiến hợp tác thành dự án đầu tư, mở rộng cơ hội kinh doanh.
EuroCham ra mắt sáng kiến “Tri ân Việt Nam”, đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

EuroCham ra mắt sáng kiến “Tri ân Việt Nam”, đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

(TBTCO) - Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) vừa chính thức công bố sáng kiến Give Back to Vietnam (Tri ân Việt Nam), nhằm kết nối nguồn lực và chuyên môn của doanh nghiệp châu Âu với nhu cầu thực tiễn, đồng thời phát huy tiềm năng của các cộng đồng tại Việt Nam.
Rộng mở cơ hội đón dòng vốn chất lượng cao từ EU

Rộng mở cơ hội đón dòng vốn chất lượng cao từ EU

(TBTCO) - Thương mại song phương tăng trưởng tích cực, dòng vốn đầu tư từng bước mở rộng, hợp tác Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) còn nhiều dư địa phát triển, nhất là trong thu hút đầu tư chất lượng cao, chuyển giao công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế.
Hạn chế trúng thầu giá thấp nhưng không bảo đảm chất lượng

Hạn chế trúng thầu giá thấp nhưng không bảo đảm chất lượng

(TBTCO) - Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) hoàn thiện phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu theo hướng chú trọng đánh giá tiêu chuẩn kỹ thuật, không chỉ tập trung vào đánh giá về giá, nhằm hạn chế tình trạng nhà thầu trúng thầu giá thấp nhưng không bảo đảm được chất lượng.
Gắn ưu đãi đầu tư với cam kết chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước

Gắn ưu đãi đầu tư với cam kết chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước

(TBTCO) - Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư đề xuất chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt được áp dụng có thời hạn gắn với cam kết về chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước. Trường hợp không đáp ứng các cam kết có thể bị thu hồi ưu đãi.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều