40 năm Đổi mới:

Từ đổi thay lịch sử đến tầm vóc hôm nay

(TBTCO) - Từ dấu mốc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đã trải qua một quá trình chuyển mình sâu sắc và toàn diện. Từ nền kinh tế chịu nhiều hệ lụy sau chiến tranh, bị bao vây cấm vận, đất nước từng bước bứt phá, trở thành điểm sáng tăng trưởng và hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế khu vực và thế giới, tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới.
aa

Đổi mới tư duy - Tạo nền tảng cho chuyển biến kinh tế sâu rộng

Công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng tại Đại hội VI năm 1986 là bước ngoặt mang tính lịch sử, mở ra quá trình chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về mô hình kinh tế mà còn là sự thay đổi sâu sắc trong tư duy phát triển, phương thức quản lý và cách thức huy động, phân bổ các nguồn lực của toàn xã hội.

Trong giai đoạn đầu Đổi mới, một trong những thách thức lớn nhất của nền kinh tế là tình trạng lạm phát phi mã, mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng. Việc kiểm soát thành công lạm phát từ mức đỉnh 874,7% năm 1986 xuống còn 167,1% năm 1990 và tiếp tục duy trì ở mức dưới 10% vào cuối thập niên 1990 là thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ổn định kinh tế vĩ mô đã tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, củng cố niềm tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời đặt nền móng cho tăng trưởng bền vững trong các giai đoạn tiếp theo.

Từ đổi thay lịch sử đến tầm vóc hôm nay
Ảnh tư liệu minh họa

Song song với đó, việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã đánh dấu bước mở cửa quan trọng của nền kinh tế. Lần đầu tiên, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cùng với công nghệ, kinh nghiệm quản lý hiện đại được khuyến khích và bảo đảm về mặt pháp lý. Cơ chế bao cấp kéo dài nhiều năm từng bước được xóa bỏ; vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế ngoài nhà nước được thừa nhận và phát huy. Những thay đổi này đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực xã hội, tạo động lực cho tăng trưởng.

Nhờ những quyết sách kịp thời và đúng hướng, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1987 - 1990 đạt bình quân 4,97%/năm; bước sang thập niên 1990, mức tăng trưởng được cải thiện rõ rệt, đạt bình quân 7,73%/năm. Đặc biệt, trong giai đoạn 1992 - 1997, tăng trưởng GDP bình quân lên tới 8,89%/năm,

phản ánh sức bật mạnh mẽ của nền kinh tế khi các rào cản về tư duy và thể chế được tháo gỡ. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam từng bước bình thường hóa quan hệ đối ngoại, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho tiến trình hội nhập sâu rộng sau này.

Diện mạo kinh tế đổi thay rõ nét

Bước sang thế kỷ XXI, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đạt nhiều dấu mốc quan trọng. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 1/2007 đã mở ra không gian phát triển mới, tạo điều kiện để hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường toàn cầu, đồng thời thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia.

Trong giai đoạn 2001 - 2010, nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mức bình quân 7,12%/năm. Dù phải đối mặt với những cú sốc lớn từ khủng hoảng tài chính toàn cầu và những biến động khó lường của kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng tương đối ổn định. Giai đoạn 2011 - 2020, trong bối cảnh nhiều thách thức đan xen, tăng trưởng kinh tế vẫn đạt bình quân 6,21%/năm, thể hiện khả năng chống chịu và thích ứng đáng kể của nền kinh tế.

Từ đổi thay lịch sử đến tầm vóc hôm nay
Đồ họa: Phương Anh

Cùng với quá trình hội nhập, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm dần, nhường chỗ cho sự phát triển của công nghiệp chế biến, chế tạo và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Nhiều trung tâm công nghiệp lớn được hình thành; Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, trở thành điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn đầu tư chất lượng cao.

Đến năm 2025, diện mạo kinh tế đất nước đã có những thay đổi căn bản. Tăng trưởng GDP ước đạt 8,02%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 514 tỷ USD. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần so với năm 2020, chính thức đưa Việt Nam gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Các chỉ số an toàn tài chính được duy trì vững chắc: nợ công khoảng 34,4% GDP, nợ Chính phủ khoảng 32,6% GDP - thấp hơn nhiều so với ngưỡng cảnh báo; lạm phát bình quân khoảng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát.

Đáng chú ý, các động lực tăng trưởng mới ngày càng thể hiện rõ vai trò. Kinh tế số phát triển nhanh, với giá trị tăng thêm năm 2025 ước đạt khoảng 72,1 tỷ USD, đóng góp 14,02% GDP. Khu vực đối ngoại tiếp tục là điểm sáng khi vốn FDI thực hiện đạt mức kỷ lục 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2024; nhiều dự án lớn trong các lĩnh vực bán dẫn, năng lượng tái tạo và công nghệ cao được triển khai. Cùng với đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,2%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 930 tỷ USD, tăng 18,2%, tạo nên thế cân bằng tương đối vững chắc cho nền kinh tế.

Tận dụng thời cơ - Tạo bứt phá cho giai đoạn phát triển mới

Giai đoạn tới, Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp, chuyển dịch theo hướng đa cực và phân mảnh. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt cùng nguy cơ “đa khủng hoảng”, chiến tranh thương mại gây áp lực lớn lên nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam. Bên cạnh xu thế bùng nổ của công nghệ mới, các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, già hóa dân số và an ninh nguồn nước đang đe dọa sự ổn định bền vững toàn cầu. Ở trong nước, dù vị thế và uy tín quốc tế được nâng cao sau 40 năm Đổi mới, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều điểm nghẽn. Nguy cơ tụt hậu về công nghệ, khả năng rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tính tự chủ của nền kinh tế chưa cao là những thách thức hiện hữu. Cùng với đó, tình trạng chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm môi trường và thiên tai đòi hỏi những giải pháp quyết liệt để bảo vệ thành quả phát triển và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, trong khó khăn luôn tiềm ẩn những cơ hội xoay chuyển cục diện. Thành công rực rỡ của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là kim chỉ nam chiến lược, khơi thông nguồn lực và củng cố niềm tin vững chắc cho toàn hệ thống chính trị cũng như cộng đồng doanh nghiệp. Nghị quyết Đại hội XIV không chỉ xác định rõ các đột phá về thể chế phát triển mà còn mở ra “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” với tư duy đổi mới mạnh mẽ. Việt Nam đang đứng trước những cơ hội để thâm nhập sâu vào các chuỗi giá trị chiến lược toàn cầu nhờ việc nâng cấp quan hệ với các cường quốc công nghệ hàng đầu.

Việc tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi năng lượng xanh… đang biến Việt Nam thành “thỏi nam châm” thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới. Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới tiếp tục là đòn bẩy để doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào nền kinh tế số và kinh tế tuần hoàn. Với sự đồng lòng và quyết tâm chính trị cao nhất từ Đại hội XIV, Việt Nam đang nắm giữ vận hội lớn để phá vỡ các điểm nghẽn, từ đó khẳng định tầm vóc của một nền kinh tế năng động, tự chủ và phát triển bền vững trên bản đồ thế giới.

Từ đổi thay lịch sử đến tầm vóc hôm nay
Đồ họa: Phương Anh

Để duy trì đà tăng trưởng và đạt được mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn tới, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại là ưu tiên hàng đầu. Chúng ta cần tạo ra những đột phá mạnh mẽ trong tư duy chính sách, xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch và đồng bộ nhằm giải phóng tối đa sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế. Thể chế mới không chỉ cần sự ổn định mà còn phải có độ mở cần thiết để thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh và khơi thông mọi nguồn lực xã hội còn đang tiềm ẩn. Đây chính là đòn bẩy quan trọng nhất để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.

Trong lộ trình tái cơ cấu nền kinh tế, Việt Nam xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng chính. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng cao là yêu cầu cấp thiết để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Thay vì dựa vào các ngành thâm dụng lao động giá trị thấp, chúng ta sẽ tập trung phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế không chỉ phát triển nhanh mà còn phải gắn liền với bảo vệ môi trường, thực hiện cam kết phát triển bền vững và tăng trưởng xanh.

Song song đó, bám sát tinh thần Nghị quyết số 79/NQ-TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Việt Nam khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng, định hướng chuyển mạnh sang quản trị hiện đại và kiến tạo phát triển, tách bạch rõ chức năng sở hữu với quản lý kinh tế. Giải pháp then chốt là xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, phân biệt rõ sai sót khách quan để khơi thông nguồn lực sáng tạo. Đồng thời, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu quốc gia về nguồn lực nhà nước sẽ tạo nền tảng số hóa, giúp hoạch định chính sách hiệu quả và chính xác trong kỷ nguyên mới, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Ngoài ra, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là chìa khóa để làm chủ công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Việt Nam sẽ tập trung đào tạo đội ngũ chuyên gia, kỹ sư trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược theo định hướng của Chính phủ, đặc biệt là kỹ năng số và tư duy sáng tạo. Sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tế sản xuất. Đồng thời, chúng ta cần tiếp tục coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, xóa bỏ mọi rào cản và định kiến để khu vực này thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bên cạnh đó, việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược sẽ tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ cho toàn nền kinh tế. Ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, năng lượng tái tạo và hạ tầng số sẽ giúp giảm chi phí logistics và tăng năng lực cạnh tranh. Bằng cách phối hợp đồng bộ chính sách tài khóa và tiền tệ, cùng với việc chủ động hội nhập và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Việt Nam hoàn toàn có thể biến những thách thức từ dòng chảy kinh tế toàn cầu thành lực đẩy để nâng cao vị thế dân tộc, vững vàng tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ 21.

TS. Nguyễn Như Quỳnh - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80