Bức tranh lương thưởng ngành ngân hàng năm 2025

Ánh Tuyết
Đãi ngộ trong ngành ngân hàng năm 2025 tiếp tục neo ở mức cao, với chi phí bình quân 35,2 triệu đồng/người/tháng, tăng 8% so với năm trước và gấp hơn 4 lần thu nhập bình quân cả nước. Tuy vậy, bức tranh không đồng đều khi nhiều nhà băng mạnh tay nâng chi trả lên nhóm 40 - 50 triệu đồng/tháng, trong khi 7 đơn vị lại điều chỉnh giảm chi phí nhân sự.
aa
Nhìn lại biến động nhân sự cùng thu nhập bình quân nhân viên ngân hàng Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Tiền thưởng Tết Nguyên đán tăng 13% so với năm trước

Chi bình quân 35 triệu đồng/tháng/nhân viên, nhiều nơi tăng vọt

Thống kê từ báo cáo tài chính hợp nhất quý IV/2025 của 27 ngân hàng niêm yết, mức chi bình quân dành cho mỗi nhân viên đạt 35,2 triệu đồng/người/tháng, tăng 8% so với năm 2024. Khoản chi này bao gồm tiền lương, phụ cấp, trợ cấp cùng các nghĩa vụ đóng góp theo lương như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế... và các khoản chi liên quan khác.

Nhìn chung, phần lớn nhà băng đều gia tăng chi phí nhân sự so với năm trước, song mức độ chênh lệch giữa các đơn vị ngày càng rõ nét.

Bức tranh lương thưởng ngân hàng 2025: Kẻ tăng 48%, người cắt giảm
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết.
Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, thu nhập bình quân của người lao động năm 2025 đạt 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9% (tương đương tăng 685.000 đồng) so với năm trước. Như vậy, mức chi trả tại các ngân hàng hiện cao gấp hơn 4 lần thu nhập bình quân chung của cả nước, phản ánh sức hấp dẫn và mặt bằng đãi ngộ vượt trội của ngành tài chính - ngân hàng.

Về tốc độ tăng trưởng, 20 ngân hàng ghi nhận gia tăng chi phí cho nhân viên, trong đó 12 đơn vị có mức tăng hai chữ số. Ở chiều ngược lại, 7 ngân hàng điều chỉnh giảm chi so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, nhóm niêm yết ghi nhận 5 ngân hàng có sự bứt phá mạnh mẽ trong việc đãi ngộ nhân sự với mức tăng chi phí bình quân trên 20%.

Dẫn đầu danh sách về tốc độ tăng trưởng là Eximbank với mức tăng đầy ấn tượng trên 60%, tương ứng với việc mỗi nhân viên nhận thêm 12,2 triệu đồng/tháng. Theo sau là ABBank với tỷ lệ tăng trưởng 32%, giúp chi phí nhân sự tăng thêm 8 triệu đồng/tháng để đạt ngưỡng 30,6 triệu đồng.

Các ngân hàng khác cũng mạnh tay chịu chi cho ngân viên gồm: SeABank tăng mạnh 29%, tương đương với mức tăng 9 triệu đồng/tháng; VPBank ghi nhận mức tăng 25%, tương ứng tăng thêm 7 triệu đồng mỗi tháng.

Cuối cùng, dù đã ở mức nền rất cao nhưng "ông lớn" VietinBank vẫn duy trì đà tăng trưởng 22%, tương đương với mức tăng tuyệt đối lên tới 10 triệu đồng/tháng, dẫn đầu vị thế toàn ngành.

VietinBank chi 53,7 triệu đồng/tháng, soán ngôi Techcombank

Tính chung năm 2025, dẫn đầu danh sách khảo sát là VietinBank với mức chi 53,7 triệu đồng/tháng. Như vậy, VietinBank vươn lên dẫn đầu về chính sách đãi ngộ trong hệ thống ngân hàng, soán ngôi vị trí quán quân mà Techcombank nắm giữ trong năm 2024.

Theo đó, tổng chi phí dành cho nhân viên của ngân hàng VietinBank trong năm đạt mức ấn tượng hơn 15.853 tỷ đồng, bao gồm các khoản lương, phụ cấp, trợ cấp và chi phí đóng góp theo lương.

Với quy mô đội ngũ gồm 24.583 cán bộ nhân viên tính đến cuối năm, mức chi phí bình quân mà VietinBank dành cho mỗi nhân sự đạt khoảng 53,7 triệu đồng/tháng. Việc duy trì mức đãi ngộ cao không chỉ giúp ngân hàng giữ chân nhân tài, mà còn tạo động lực mạnh mẽ để nhân viên nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng cạnh tranh khốc liệt.

Bức tranh lương thưởng ngành ngân hàng năm 2025
Bức tranh lương thưởng ngành ngân hàng năm 2025. Ảnh minh họa.

Theo sát là BIDV và MB với mức chi lần lượt đạt 50,9 triệu đồng/tháng và 49,9 triệu đồng/tháng; trong đó BIDV tăng 14% (tương đương 6 triệu đồng/tháng) và MB tăng 12% (tương đương 5 triệu đồng/tháng).

Đáng chú ý, Techcombank sau khi bị soán ngôi thì đứng ở vị trí thứ 4 với 48,3 triệu đồng và cũng là ngân hàng duy nhất trong top đầu ghi nhận sự sụt giảm nhẹ 1%, tương ứng giảm 1 triệu đồng/tháng so với năm 2024.

Trong khi đó, Vietcombank giữ phong độ ổn định khi tăng 11%, đạt mức 47,4 triệu đồng/tháng, cao hơn 5 triệu đồng so với năm trước.

Các ngân hàng khác chi trả cho nhân viên mạnh tay ở ngưỡng 40 triệu đồng/tháng có thể kể đến như: SHB đạt 42,3 triệu đồng/tháng (tăng nhẹ 3%, tương ứng 1 triệu đồng/tháng) và NCB đạt 41,2 triệu đồng (tăng 5%, tương ứng 2 triệu đồng/tháng); SeABank (40,9 triệu đồng/tháng, tương ứng mức tăng 9 triệu đồng/tháng).

Cần lưu ý rằng, bảng xếp hạng trong bài viết chỉ phản ánh mức thu nhập bình quân của nhân viên ngân hàng. Trên thực tế, chênh lệch thu nhập nội bộ giữa các vị trí là khá lớn; thu nhập của nhân viên nghiệp vụ thông thường thường thấp hơn đáng kể so với các cấp quản lý trung gian và lãnh đạo./.

7 ngân hàng cắt giảm chi phí nhân sự

Trái ngược với xu hướng tăng mạnh của một số "ông lớn", bảng số liệu năm 2025 cũng ghi nhận 7/27 ngân hàng có sự sụt giảm trong chi phí bình quân cho nhân viên, phản ánh nỗ lực tối ưu hóa chi phí vận hành hoặc thay đổi cơ cấu nhân sự.

Đứng đầu về mức độ cắt giảm là MSB với mức giảm sâu nhất thị trường, khi chi phí cho nhân viên giảm tới 22% (tương đương giảm 8 triệu đồng/tháng), kéo mức chi xuống còn 28,9 triệu đồng. Theo sau là Nam A Bank với mức sụt giảm 12%, tương ứng giảm 4 triệu đồng/tháng về mức 28,9 triệu đồng.

Đáng chú ý, một số ngân hàng dù có sự sụt giảm nhưng vẫn duy trì mức chi trả rất cao so với mặt bằng chung như: ACB giảm 2% (tương đương 1 triệu đồng/tháng) về mức 39,2 triệu đồng và Techcombank giảm nhẹ 1% (tương đương 1 triệu đồng/tháng) nhưng vẫn giữ mức chi cao 48,3 triệu đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch trên ngưỡng 4.120 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều thương hiệu, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17656 17930 18505
CAD 18041 18316 18932
CHF 31589 31969 32607
CNY 0 3830 3923
EUR 29261 29481 30559
GBP 34256 34647 35578
HKD 0 3218 3420
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14877 15459
SGD 19752 20033 20608
THB 699 762 814
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26430
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,079 26,129 26,450
USD20 26,079 26,129 26,450
USD1 26,079 26,129 26,450
AUD 17,901 18,001 19,106
EUR 29,253 29,353 31,009
CAD 18,174 18,274 19,580
SGD 19,998 20,148 20,820
JPY 158.69 160.19 165.75
GBP 34,463 34,613 35,675
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80