Cách VPBank định hình cấu trúc tài chính đa động lực thông qua hệ sinh thái

(TBTCO) - Sau dấu ấn mang tính bước ngoặt của FE CREDIT, hệ sinh thái của VPBank bước sang giai đoạn phát triển "sâu hơn", khi các công ty thành viên trở thành những trụ cột tạo giá trị độc lập. Từ chứng khoán, bảo hiểm số đến ngân hàng số và các mảng kinh doanh mới, chiến lược hệ sinh thái mở rộng khác biệt đang tạo ra không gian tăng trưởng và gia tăng chất lượng lợi nhuận cho VPBank.
aa
Cách VPBank định hình cấu trúc tài chính đa động lực thông qua hệ sinh thái

Hệ sinh thái - Động lực mang tính bước ngoặt

Thành công của FE CREDIT từng giúp VPBank xác lập lợi thế khác biệt trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng, đồng thời khẳng định năng lực xây dựng và vận hành các mô hình kinh doanh quy mô lớn ngoài ngân hàng truyền thống. Tuy nhiên, giai đoạn hiện tại cho thấy một bước phát triển cao hơn: VPBank không chỉ dựa vào sự trở lại của một trụ cột cũ, mà đang kế thừa nền tảng đó để mở rộng sang những động lực tăng trưởng mới.

Trong bức tranh hệ sinh thái đang mở rộng, Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS, VPX) là minh chứng rõ nét cho chiến lược tăng trưởng theo chiều sâu lẫn chiều rộng. Chỉ sau hơn ba năm gia nhập hệ sinh thái, VPBankS đã tạo dấu ấn mạnh mẽ với thương vụ IPO lớn nhất lịch sử ngành chứng khoán Việt Nam, huy động hơn 12.700 tỷ đồng.

Sự bứt phá không chỉ thể hiện ở quy mô vốn điều lệ tăng mạnh, mà còn phản ánh qua các chỉ tiêu hoạt động cốt lõi. Tính đến cuối năm 2025, VPBankS vào top 3 toàn ngành về quy mô vốn chủ sở hữu và dư nợ cho vay margin. Lợi nhuận cả năm đạt 4.476 tỷ đồng, gấp ba lần cùng kỳ. Mảng môi giới - thước đo về sức cạnh tranh ngành chứng khoán - ghi nhận lần đầu tiên VPBankS lọt top 10 thị phần tại HoSE trong quý IV/2025, đồng thời duy trì vị trí top 10 trên HNX và UPCoM. Quy mô khách hàng vượt 1,1 triệu tài khoản là nền tảng để công ty tiếp tục mở rộng hoạt động bán chéo sản phẩm.

"Lợi nhuận trước thuế ngân hàng mẹ tăng 44,4% và đóng góp 86% tổng lợi nhuận, giảm so với mức 91,2% trong năm 2024, phản ánh đóng góp ngày càng lớn từ hệ sinh thái, đặc biệt là VPX" - chuyên gia phân tích từ một công ty chứng khoán nhận xét.

Bên cạnh sức nóng của mảng chứng khoán, Bảo hiểm số OPES cũng là một mảnh ghép đáng chú ý. Khác với mô hình bảo hiểm truyền thống vốn nặng về chi phí vận hành, OPES tận dụng tối đa sự cộng hưởng của hệ sinh thái VPBank để tối ưu hóa tệp khách hàng và hoạt động. Nhờ vậy, OPES vượt kế hoạch kinh doanh cả năm 2025, đạt lợi nhuận hơn 638 tỷ đồng, với hiệu suất hoạt động vượt xa mô hình truyền thống.

Sức mạnh của VPBank không dừng lại ở chứng khoán hay bảo hiểm phi nhân thọ, mà còn nằm ở khả năng mở rộng thông qua ngân hàng số và các dịch vụ tài chính thế hệ mới.

CAKE by VPBank tiếp tục là thỏi nam châm thu hút giới trẻ (Gen Z và Gen Alpha) bằng các trải nghiệm tài chính vi mô, linh hoạt và đậm chất công nghệ. GPBank, với định hướng trở thành mảnh ghép ngân hàng số phục vụ phân khúc khách hàng SME, chỉ sau một năm tái cơ cấu toàn diện với sự đồng hành của ngân hàng mẹ đã ghi nhận những kết quả tích cực, báo lãi hơn 500 tỷ đồng.

Những mảnh ghép mới sắp xuất hiện

Theo Nghị quyết Hội đồng Quản trị, VPBank đặt mục tiêu tổng tài sản hợp nhất năm 2026 đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 29% so với năm trước. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất dự kiến đạt hơn 41.300 tỷ đồng - mức cao nhất trong lịch sử ngân hàng và là cột mốc lợi nhuận vốn chỉ xuất hiện ở một số "ông lớn" quốc doanh.

Để hiện thực hóa tham vọng này, VPBank không chỉ củng cố các trụ cột hiện hữu mà còn tiếp tục mở rộng hệ sinh thái, từng bước đặt nền móng cho các lĩnh vực mới như tài sản mã hoá, vàng vật chất, bảo hiểm nhân thọ và quản lý quỹ.

Tại buổi gặp mặt nhà đầu tư cuối tháng 1/2026, bà Lưu Thị Thảo - Phó Tổng Giám đốc thường trực và Giám đốc Điều hành cao cấp VPBank cho biết ngân hàng đánh giá tài sản mã hoá là động lực tăng trưởng quan trọng trong dài hạn và đã chủ động chuẩn bị để kích hoạt vận hành ngay khi hành lang pháp lý sẵn sàng. Với kinh doanh vàng, ngân hàng đang hoàn thiện hồ sơ xin cấp phép, với tầm nhìn không dừng lại ở kinh doanh vàng vật chất mà tích cực chuẩn bị nguồn vốn và giải pháp công nghệ để triển khai các dịch vụ tài chính khác.

Việt Nam là một trong những thị trường có mức độ quan tâm cao tới tài sản số, trong khi nhu cầu giao dịch vàng vẫn duy trì ổn định qua nhiều chu kỳ kinh tế. Với tài sản mã hóa, CAEX được góp vốn bởi các thành viên trong hệ sinh thái VPBank, gồm VPBankS và LynkiD, đang chuẩn bị đầy đủ nguồn lực và công nghệ để sẵn sàng tham gia thí điểm. Việc tham gia vào các mảng kinh doanh này không chỉ mở rộng danh mục sản phẩm đầu tư, mà còn giúp VPBank giữ chân nhóm khách hàng trẻ và nhà đầu tư cá nhân.

Ở lĩnh vực bảo hiểm, thành công của mô hình bảo hiểm số OPES trong mảng phi nhân thọ đang tạo ra tiền đề quan trọng để VPBank mở rộng sang phân khúc nhân thọ. OPES không chỉ duy trì hiệu quả sinh lời cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung, mà còn chứng minh mô hình bảo hiểm số có thể tăng trưởng nhanh với chi phí vận hành tối ưu. Thành công của OPES, cùng sự cộng hưởng của hệ sinh thái hơn 30 triệu khách hàng sẽ là lợi thế nền tảng để VPBank có thể tự tin bước vào sân chơi bảo hiểm nhân thọ, một thị trường còn nhiều dư địa khi tỷ lệ thâm nhập tại Việt Nam vẫn ở mức thấp.

Với quản lý quỹ, tiềm năng đến từ sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu và nhu cầu quản trị tài sản chuyên nghiệp. Khi quy mô tài sản tích lũy trong nền kinh tế ngày càng lớn, nhu cầu đầu tư bài bản, đa dạng hóa danh mục sẽ gia tăng tương ứng. Sự hiện diện của công ty quản lý quỹ sẽ giúp hoàn thiện hệ sinh thái khép kín: từ huy động vốn, cung cấp sản phẩm đầu tư, bảo hiểm đến quản lý tài sản.

Có thể thấy, chiến lược mở rộng của VPBank không mang tính dàn trải, mà dựa trên sự cộng hưởng, bổ trợ lẫn nhau giữa các mảng kinh doanh. Thành công của bảo hiểm phi nhân thọ tạo bàn đạp cho nhân thọ; nền tảng khách hàng ngân hàng và chứng khoán là nguồn lực cho quản lý quỹ; trong khi tài sản mã hóa và vàng mở ra cánh cửa tiếp cận những xu hướng đầu tư mới.

Khi các mảnh ghép này dần định hình, hệ sinh thái VPBank sẽ hoàn thiện hơn nữa mô hình tập đoàn tài chính đa năng, với khả năng khai thác toàn diện và phục vụ toàn bộ nhu cầu tài chính của khách hàng./.

Hồng Chi

Đọc thêm

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▼100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲150K 14,190 ▲150K
Trang sức 99.99 13,500 ▲150K 14,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1236K 14,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1236K 14,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▲1248K 1,425 ▲1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▲1248K 1,426 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,355 ▲1221K 1,405 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▲1485K 139,109 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▲86275K 105,536 ▲95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼84020K 957 ▼93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▲916K 85,864 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼64168K 8,207 ▼72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▲625K 58,744 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cập nhật: 27/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17895 18169 18741
CAD 18139 18415 19029
CHF 31645 32025 32662
CNY 0 3848 3940
EUR 29370 29590 30667
GBP 34302 34693 35623
HKD 0 3225 3427
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14955 15545
SGD 19867 20149 20715
THB 700 763 816
USD (1,2) 26053 0 0
USD (5,10,20) 26094 0 0
USD (50,100) 26123 26132 26496
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,515
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,509 29,533 30,942
JPY 156.57 156.85 166.32
GBP 34,494 34,587 35,780
AUD 18,099 18,164 18,847
CAD 18,321 18,380 19,055
CHF 31,904 32,003 32,952
SGD 19,979 20,041 20,834
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.51 17.22 18.73
THB 747.49 756.72 809.6
NZD 14,933 15,072 15,517
SEK - 2,674 2,768
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,695 2,790
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.48 - 6,798.11
TWD 734.81 - 890.08
SAR - 6,893.16 7,259.71
KWD - 83,217 88,534
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,520
EUR 29,478 29,596 30,788
GBP 34,544 34,683 35,713
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 31,779 31,907 32,829
JPY 156.93 157.56 165.40
AUD 18,076 18,149 18,746
SGD 20,074 20,155 20,746
THB 764 767 803
CAD 18,370 18,444 19,022
NZD 15,037 15,581
KRW 17.20 19.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26495
AUD 18075 18175 19100
CAD 18346 18446 19461
CHF 31911 31941 33527
CNY 3827.9 3852.9 3988.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29580 29610 31332
GBP 34658 34708 36463
HKD 0 3355 0
JPY 157.41 157.91 168.45
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15062 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20036 20166 20889
THB 0 729.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14300000
SBJ 12800000 12800000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,142 26,192 26,510
USD20 26,142 26,192 26,510
USD1 26,142 26,192 26,510
AUD 18,126 18,226 19,331
EUR 29,372 29,472 31,131
CAD 18,258 18,358 19,667
SGD 20,100 20,250 20,806
JPY 157.87 159.37 164.92
GBP 34,537 34,687 35,749
XAU 13,898,000 0 14,302,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80