Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Thu Hương
(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
aa

PV: Thưa ông, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, trong đó nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% kể từ ngày 1/7/2026. Theo ông, thay đổi này sẽ tác động như thế nào đến triển vọng tăng trưởng tín dụng và kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng trong thời gian tới?

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng
Ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi.

Theo ông Lương Duy Phước, việc nới trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn sẽ tạo cơ hội cho nhóm cổ phiếu ngân hàng, song xu hướng phân hóa nhiều khả năng diễn ra rõ nét hơn. Nhà đầu tư cần theo dõi bốn yếu tố gồm chất lượng tài sản, tỷ lệ CASA, dư địa tăng trưởng tín dụng theo trần mới 40% và mức định giá. Những ngân hàng có nền tảng tài chính lành mạnh, còn dư địa tín dụng và được định giá hợp lý sẽ có lợi thế hơn trong dài hạn.

Ông Lương Duy Phước: Đây là một điều chỉnh chính sách quan trọng, xuất phát từ đặc thù hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trên thực tế, các ngân hàng thương mại chủ yếu huy động vốn ngắn hạn trong khi nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của nền kinh tế luôn ở mức cao, đặc biệt đối với các lĩnh vực như hạ tầng, năng lượng hay khu công nghiệp. Trong khi đó, nguồn vốn huy động dài hạn thường có chi phí cao hơn, tạo áp lực lên biên lãi ròng của các ngân hàng.

Việc NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% về cơ bản giúp tháo gỡ một điểm nghẽn mang tính cấu trúc đối với hoạt động tín dụng. Chính sách này có ý nghĩa trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án đầu tư đang gia tăng. Khi dư địa sử dụng nguồn vốn được mở rộng thêm 10 điểm phần trăm, các ngân hàng sẽ có điều kiện chủ động hơn trong việc cấp tín dụng cho các khoản vay dài hạn, đồng thời giảm áp lực tuân thủ các giới hạn an toàn.

Tôi cho rằng tăng trưởng tín dụng trong nửa cuối năm 2026 có thể cải thiện so với giai đoạn đầu năm. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trùng với thời điểm các ngân hàng thường đẩy mạnh giải ngân để hoàn thành kế hoạch kinh doanh cả năm. Điều này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ hoạt động tín dụng trong quý III và quý IV, qua đó góp phần cải thiện kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.

PV: Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho các lĩnh vực như hạ tầng, sản xuất và bất động sản đang gia tăng, theo ông, những nhóm ngân hàng nào có khả năng tận dụng cơ hội từ chính sách mới tốt hơn và vì sao?

Ông Lương Duy Phước: Nếu xét theo nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng và đầu tư quy mô lớn, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước gồm BIDV (BID), VietinBank (CTG) và Vietcombank (VCB) được đánh giá có nhiều lợi thế. Đây là các ngân hàng có quan hệ tín dụng lâu năm với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các chủ đầu tư dự án lớn, đồng thời danh mục cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu tín dụng.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Chính sách mới mở đường cho tăng trưởng tín dụng và định giá cổ phiếu ngân hàng. Ảnh: Đức Thanh.

Việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40% sẽ tạo thêm dư địa để các ngân hàng này tiếp tục tài trợ cho các dự án giao thông, cảng biển, khu công nghiệp và các công trình trọng điểm trong bối cảnh đầu tư công được đẩy mạnh.

Bên cạnh nhóm ngân hàng quốc doanh, một số ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn như MB (MBB), VPBank (VPB) và Techcombank (TCB) cũng được kỳ vọng hưởng lợi đáng kể từ chính sách mới. Trong những năm gần đây, các ngân hàng này đã gia tăng hiện diện ở các lĩnh vực hạ tầng, bất động sản khu công nghiệp và các dự án trung, dài hạn.

Lợi thế về quy mô tổng tài sản, năng lực vốn chủ sở hữu cùng khả năng quản trị rủi ro ngày càng được cải thiện giúp các ngân hàng có điều kiện mở rộng hoạt động tín dụng trong các lĩnh vực này. Đáng chú ý, một số ngân hàng đang vận hành với tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ở mức tương đối cao so với giới hạn cũ 30%, do đó việc nới trần lên 40% sẽ trực tiếp tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới.

Nhìn chung, chính sách mới mở ra cơ hội cho cả nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi của từng ngân hàng sẽ phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn, danh mục tín dụng hiện hữu cũng như năng lực thẩm định và triển khai các khoản vay trung, dài hạn.

PV: Theo ông, những tác động đối với tăng trưởng tín dụng và kết quả kinh doanh của các ngân hàng sẽ được thị trường phản ánh như thế nào lên triển vọng của nhóm cổ phiếu ngân hàng trong nửa cuối năm 2026 và năm 2027?

Ông Lương Duy Phước: Xét từ góc độ định giá, việc nới trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là yếu tố hỗ trợ tích cực cho nhóm cổ phiếu ngân hàng. Chính sách này giúp mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng, tạo điều kiện để các ngân hàng đẩy mạnh giải ngân, qua đó cải thiện thu nhập lãi thuần trong nửa cuối năm 2026 và năm 2027.

Khi triển vọng tăng trưởng tín dụng được cải thiện, thị trường thường phản ánh kỳ vọng này thông qua việc nâng mức định giá mục tiêu đối với cổ phiếu ngân hàng, cả theo chỉ số P/B và P/E. Nhờ đó, giá trị nội tại của nhóm ngân hàng được hỗ trợ tích cực hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội tăng trưởng, nhà đầu tư cũng cần lưu ý đến những rủi ro đi kèm. Việc sử dụng tỷ trọng vốn ngắn hạn cao hơn để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn sẽ làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn, hay còn gọi là rủi ro tái tài trợ. Trong điều kiện thị trường ổn định, rủi ro này thường nằm trong khả năng kiểm soát của các ngân hàng. Tuy nhiên, nếu thanh khoản hệ thống thu hẹp, lãi suất huy động tăng mạnh hoặc dòng tiền gửi biến động đáng kể, những ngân hàng sử dụng tỷ lệ cao hơn có thể phải đối mặt với áp lực thanh khoản lớn hơn.

Do đó, dù triển vọng chung của nhóm cổ phiếu ngân hàng được đánh giá tích cực hơn trong thời gian tới, xu hướng phân hóa giữa các ngân hàng nhiều khả năng sẽ diễn ra rõ nét. Những ngân hàng vừa tận dụng hiệu quả dư địa tín dụng mới, vừa duy trì được nền tảng thanh khoản vững chắc, chất lượng tài sản tốt và khả năng quản trị rủi ro hiệu quả sẽ có cơ hội được thị trường đánh giá cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng kiểm soát rủi ro chưa tốt có thể chịu áp lực khi thị trường đánh giá lại triển vọng dài hạn.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thu Hương

Đọc thêm

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (17/7): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, DXY được nâng đỡ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (17/7): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, DXY được nâng đỡ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 17/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 25.254 đồng, tăng 11 đồng so với phiên trước và nối dài chuỗi tăng trong tuần. Trái lại, giá USD tại nhiều ngân hàng tiếp tục đi ngang nhiều phiên liên tiếp. Chỉ số DXY tăng 0,21% lên 100,7 điểm, được hỗ trợ bởi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang và kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 ▼14550K 0 ▼14850K
Kim TT/AVPL 0 ▼14350K 0 ▼14750K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - ▼14350K - ▼14750K
Nguyên Liệu 99.99 0 ▼13200K 0 ▼13400K
Nguyên Liệu 99.9 0 ▼13150K 0 ▼13350K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 ▼150700K -142,000 ▼156200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼120K 14,490 ▼120K
Trang sức 99.99 13,800 ▼120K 14,500 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼16K 14,662 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼16K 14,663 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼16K 1,456 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼16K 1,457 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,391 ▼21K 1,436 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,178 ▼1584K 142,178 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,061 ▼1200K 107,861 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,008 ▼1088K 97,808 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,955 ▼976K 87,755 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,077 ▲66576K 83,877 ▲75396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,237 ▼667K 60,037 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cập nhật: 17/07/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17790 18063 18642
CAD 18198 18474 19096
CHF 31894 32275 32924
CNY 0 3839 3932
EUR 29433 29654 30738
GBP 34520 34912 35848
HKD 0 3222 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15013 15607
SGD 19825 20107 20683
THB 697 761 814
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26490
AUD 17972 18072 19003
CAD 18386 18486 19502
CHF 32146 32176 33754
CNY 3819.3 3844.3 3979.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29619 29649 31374
GBP 34830 34880 36638
HKD 0 3355 0
JPY 158.41 158.91 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15128 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19983 20113 20840
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,105 26,155 26,516
USD20 26,105 26,155 26,516
USD1 23,992 26,155 26,516
AUD 17,950 18,064 19,244
EUR 29,350 29,450 31,199
CAD 18,250 18,350 19,751
SGD 20,001 20,150 20,783
JPY 158.24 159.74 166.01
GBP 34,650 34,806 35,967
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80