Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng
PV: Thưa ông, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, trong đó nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% kể từ ngày 1/7/2026. Theo ông, thay đổi này sẽ tác động như thế nào đến triển vọng tăng trưởng tín dụng và kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng trong thời gian tới?
Theo ông Lương Duy Phước, việc nới trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn sẽ tạo cơ hội cho nhóm cổ phiếu ngân hàng, song xu hướng phân hóa nhiều khả năng diễn ra rõ nét hơn. Nhà đầu tư cần theo dõi bốn yếu tố gồm chất lượng tài sản, tỷ lệ CASA, dư địa tăng trưởng tín dụng theo trần mới 40% và mức định giá. Những ngân hàng có nền tảng tài chính lành mạnh, còn dư địa tín dụng và được định giá hợp lý sẽ có lợi thế hơn trong dài hạn. |
Ông Lương Duy Phước: Đây là một điều chỉnh chính sách quan trọng, xuất phát từ đặc thù hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trên thực tế, các ngân hàng thương mại chủ yếu huy động vốn ngắn hạn trong khi nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của nền kinh tế luôn ở mức cao, đặc biệt đối với các lĩnh vực như hạ tầng, năng lượng hay khu công nghiệp. Trong khi đó, nguồn vốn huy động dài hạn thường có chi phí cao hơn, tạo áp lực lên biên lãi ròng của các ngân hàng.
Việc NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% về cơ bản giúp tháo gỡ một điểm nghẽn mang tính cấu trúc đối với hoạt động tín dụng. Chính sách này có ý nghĩa trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án đầu tư đang gia tăng. Khi dư địa sử dụng nguồn vốn được mở rộng thêm 10 điểm phần trăm, các ngân hàng sẽ có điều kiện chủ động hơn trong việc cấp tín dụng cho các khoản vay dài hạn, đồng thời giảm áp lực tuân thủ các giới hạn an toàn.
Tôi cho rằng tăng trưởng tín dụng trong nửa cuối năm 2026 có thể cải thiện so với giai đoạn đầu năm. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trùng với thời điểm các ngân hàng thường đẩy mạnh giải ngân để hoàn thành kế hoạch kinh doanh cả năm. Điều này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ hoạt động tín dụng trong quý III và quý IV, qua đó góp phần cải thiện kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.
PV: Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho các lĩnh vực như hạ tầng, sản xuất và bất động sản đang gia tăng, theo ông, những nhóm ngân hàng nào có khả năng tận dụng cơ hội từ chính sách mới tốt hơn và vì sao?
Ông Lương Duy Phước: Nếu xét theo nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng và đầu tư quy mô lớn, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước gồm BIDV (BID), VietinBank (CTG) và Vietcombank (VCB) được đánh giá có nhiều lợi thế. Đây là các ngân hàng có quan hệ tín dụng lâu năm với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các chủ đầu tư dự án lớn, đồng thời danh mục cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu tín dụng.
![]() |
| Chính sách mới mở đường cho tăng trưởng tín dụng và định giá cổ phiếu ngân hàng. Ảnh: Đức Thanh. |
Việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40% sẽ tạo thêm dư địa để các ngân hàng này tiếp tục tài trợ cho các dự án giao thông, cảng biển, khu công nghiệp và các công trình trọng điểm trong bối cảnh đầu tư công được đẩy mạnh.
Bên cạnh nhóm ngân hàng quốc doanh, một số ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn như MB (MBB), VPBank (VPB) và Techcombank (TCB) cũng được kỳ vọng hưởng lợi đáng kể từ chính sách mới. Trong những năm gần đây, các ngân hàng này đã gia tăng hiện diện ở các lĩnh vực hạ tầng, bất động sản khu công nghiệp và các dự án trung, dài hạn.
Lợi thế về quy mô tổng tài sản, năng lực vốn chủ sở hữu cùng khả năng quản trị rủi ro ngày càng được cải thiện giúp các ngân hàng có điều kiện mở rộng hoạt động tín dụng trong các lĩnh vực này. Đáng chú ý, một số ngân hàng đang vận hành với tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ở mức tương đối cao so với giới hạn cũ 30%, do đó việc nới trần lên 40% sẽ trực tiếp tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới.
Nhìn chung, chính sách mới mở ra cơ hội cho cả nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi của từng ngân hàng sẽ phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn, danh mục tín dụng hiện hữu cũng như năng lực thẩm định và triển khai các khoản vay trung, dài hạn.
PV: Theo ông, những tác động đối với tăng trưởng tín dụng và kết quả kinh doanh của các ngân hàng sẽ được thị trường phản ánh như thế nào lên triển vọng của nhóm cổ phiếu ngân hàng trong nửa cuối năm 2026 và năm 2027?
Ông Lương Duy Phước: Xét từ góc độ định giá, việc nới trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là yếu tố hỗ trợ tích cực cho nhóm cổ phiếu ngân hàng. Chính sách này giúp mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng, tạo điều kiện để các ngân hàng đẩy mạnh giải ngân, qua đó cải thiện thu nhập lãi thuần trong nửa cuối năm 2026 và năm 2027.
Khi triển vọng tăng trưởng tín dụng được cải thiện, thị trường thường phản ánh kỳ vọng này thông qua việc nâng mức định giá mục tiêu đối với cổ phiếu ngân hàng, cả theo chỉ số P/B và P/E. Nhờ đó, giá trị nội tại của nhóm ngân hàng được hỗ trợ tích cực hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội tăng trưởng, nhà đầu tư cũng cần lưu ý đến những rủi ro đi kèm. Việc sử dụng tỷ trọng vốn ngắn hạn cao hơn để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn sẽ làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn, hay còn gọi là rủi ro tái tài trợ. Trong điều kiện thị trường ổn định, rủi ro này thường nằm trong khả năng kiểm soát của các ngân hàng. Tuy nhiên, nếu thanh khoản hệ thống thu hẹp, lãi suất huy động tăng mạnh hoặc dòng tiền gửi biến động đáng kể, những ngân hàng sử dụng tỷ lệ cao hơn có thể phải đối mặt với áp lực thanh khoản lớn hơn.
Do đó, dù triển vọng chung của nhóm cổ phiếu ngân hàng được đánh giá tích cực hơn trong thời gian tới, xu hướng phân hóa giữa các ngân hàng nhiều khả năng sẽ diễn ra rõ nét. Những ngân hàng vừa tận dụng hiệu quả dư địa tín dụng mới, vừa duy trì được nền tảng thanh khoản vững chắc, chất lượng tài sản tốt và khả năng quản trị rủi ro hiệu quả sẽ có cơ hội được thị trường đánh giá cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng kiểm soát rủi ro chưa tốt có thể chịu áp lực khi thị trường đánh giá lại triển vọng dài hạn.
PV: Xin cảm ơn ông!
Dành cho bạn
Đọc thêm
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ
SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh
NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế
Từ dịch vụ cầm cố đến định chế tài chính minh bạch: Hành trình ESG của F88
Từ “giữ tiền an toàn” đến tối ưu dòng tiền nhàn rỗi





