Prudential lãi lớn trên 4.900 tỷ đồng nhờ “trụ đỡ” tài chính, bảo hiểm chưa thoát "vùng trũng"

(TBTCO) - Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam ghi nhận lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 4.937 tỷ đồng, tăng mạnh 47,8% và cao nhất nhiều năm, chủ yếu nhờ hoạt động tài chính tiếp tục đóng vai trò “trụ đỡ”; ngược lại, mảng bảo hiểm cốt lõi vẫn chịu áp lực khi phí bảo hiểm gốc chỉ đạt 20.100 tỷ đồng. Tổng tài sản Công ty tiến sát 200.000 tỷ đồng, trong đó đầu tư trái phiếu đạt 92.609 tỷ đồng.
aa
Prudential Việt Nam có tổng giám đốc mới
Thị trường vào nhịp tăng mới, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng trở lại mốc 150 nghìn tỷ đồng Thị phần doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh trong giai đoạn tái cấu trúc

Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam vừa công bố kết quả tài chính năm 2025.

Hoạt động kinh doanh của Prudential Việt Nam ghi nhận sự phục hồi rõ nét về lợi nhuận dù mảng bảo hiểm cốt lõi vẫn chịu áp lực. Theo đó, lợi nhuận trước thuế Bảo hiểm Prudential Việt Nam đạt khoảng 4.937 tỷ đồng, tăng mạnh khoảng 47,8% so với năm 2024 (tức tăng gần 1.600 tỷ đồng)

Động lực tăng trưởng của Prudential Việt Nam trong năm 2025 tiếp tục đến từ mảng tài chính, khi lợi nhuận gộp từ hoạt động này đạt khoảng 11.414 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,2% so với năm trước và là mức cao nhất trong nhiều năm. Qua đó, duy trì vai trò “trụ đỡ” cho toàn bộ kết quả kinh doanh trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm suy giảm.

Theo đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tiếp tục đi xuống. Năm 2025, doanh thu thuần từ hoạt động bảo hiểm đạt 19.577 tỷ đồng, giảm 15,8% so với cùng kỳ.

Diễn biến này chủ yếu đến từ sự sụt giảm của phí bảo hiểm gốc, khi chỉ đạt khoảng 20.100 tỷ đồng, giảm 15,3% so với năm trước, kéo theo doanh thu thuần bảo hiểm giảm tương ứng. So với năm 2022, phí bảo hiểm gốc vẫn thấp hơn 35,5%, tương đương giảm 11.080 tỷ đồng, phản ánh vẫn còn áp lực lên hoạt động khai thác mới của doanh nghiệp.

Cũng theo đại diện Prudential Việt Nam, doanh thu từ hoạt động đầu tư đạt 12.080 tỷ đồng, trong đó 3.995 tỷ đồng đến từ danh mục đầu tư của Quỹ liên kết đơn vị. Khoản bổ sung lãi công bố cho Quỹ chủ hợp đồng tham gia chia lãi (PAR) đạt 1.779 tỷ đồng. Tổng lãi định kỳ và lãi bổ sung một lần mà Prudential Việt Nam đã công bố là hơn 4.000 tỷ đồng.

Prudential lãi lớn trên 4.900 tỷ đồng nhờ “trụ đỡ” tài chính, bảo hiểm chưa thoát
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Ở chiều chi phí, Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác đạt gần 16.489 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm trước. Tuy nhiên, sau khi tính đến các yếu tố điều chỉnh như thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm, biến động các quỹ dự phòng và chi phí hoa hồng…, tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm lại giảm khoảng 15%, xuống còn gần 25.000 tỷ đồng.

Dù chi phí đã được kiểm soát tốt hơn, hoạt động bảo hiểm vẫn ghi nhận lỗ gộp khoảng 1.583 tỷ đồng. Mức lỗ này đã cải thiện nhẹ 71 tỷ đồng so với năm trước, nhưng doanh nghiệp vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lỗ gộp kéo dài.

Prudential lãi lớn trên 4.900 tỷ đồng nhờ “trụ đỡ” tài chính, bảo hiểm chưa thoát
Nguồn: Prudential Việt Nam.

Tại thời điểm cuối năm 2025, tổng tài sản của Prudential Việt Nam đạt khoảng 198.855 tỷ đồng, tăng gần 9.804 tỷ đồng so với năm 2024, tương ứng mức tăng khoảng 5,2%. Quy mô tài sản tiếp tục mở rộng theo xu hướng ổn định, tuy nhiên tốc độ tăng đã chậm lại đáng kể so với giai đoạn trước khi duy trì mức tăng hai chữ số.

Cơ cấu tài sản tiếp tục nghiêng mạnh về tài sản dài hạn, đạt 147.072 tỷ đồng, chiếm khoảng 74% tổng tài sản, phản ánh đặc thù của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.

"Tổng giá trị tài sản đầu tư đạt 180.837 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đầu tư vào trái phiếu đạt 92.609 tỷ đồng" - đại diện Prudential Việt Nam cho biết.

Đáng chú ý, các khoản đầu tư tài chính tiếp tục đóng vai trò trụ cột. Đầu tư tài chính dài hạn đạt 138.229 tỷ đồng, tăng khoảng 9.301 tỷ đồng so với năm trước, chiếm tới 69,5% tổng tài sản, là nguồn tạo lợi nhuận chính của doanh nghiệp. Song song, đầu tư tài chính ngắn hạn cũng tăng mạnh lên 40.242 tỷ đồng (tăng hơn 11,7%), chiếm khoảng 20,2% tổng tài sản.

Ông Kevin Kwon - Tổng Giám đốc Prudential Việt Nam chia sẻ, năm 2025 đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong định hướng phát triển của Prudential Việt Nam, hiện thực hóa sứ mệnh “mang yên tâm trọn vẹn đến mỗi gia đình Việt” thông qua kế hoạch ba năm lấy khách hàng, chất lượng sản phẩm và phát triển bền vững làm trọng tâm.

"Song hành với các mục tiêu tăng trưởng, chúng tôi ưu tiên nâng cao nền tảng vận hành thông qua việc tinh gọn mô hình hoạt động, hiện đại hóa công nghệ và phát triển các năng lực cốt lõi, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn" - lãnh đạo Prudential Việt Nam nhấn mạnh.

Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng danh mục sản phẩm bảo vệ và đầu tư, đồng thời đẩy nhanh chuyển đổi số trên toàn bộ hành trình khách hàng nhằm mang đến trải nghiệm đơn giản, nhanh chóng và cá nhân hóa hơn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng bảo đảm an toàn phải là điều kiện tiên quyết.
OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

(TBTCO) - OCB vừa bổ nhiệm ông Dương Đức Hùng giữ chức Tổng Giám đốc từ ngày 26/10/2026, đồng thời giao ông Chris Shayan phụ trách chuyển đổi số và phát triển kinh doanh bán lẻ. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao được kỳ vọng củng cố năng lực điều hành, tạo động lực tăng trưởng cho ngân hàng.
ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

(TBTCO) - 9 tháng năm 2026, ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 4.301,3 tỷ đồng, tăng 86,9%, hoàn thành gần 96% kế hoạch năm nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh và kiểm soát tốt chi phí. Dư nợ cho vay của ngân hàng tăng 18,2% so với đầu năm, đạt 134.592 tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu vẫn được kiểm soát ở mức 0,8%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 14,200
Miếng SJC Nghệ An 13,900 14,200
Miếng SJC Thái Bình 13,900 14,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
Trang sức 99.9 13,430 14,030
Trang sức 99.99 13,440 14,040
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 14,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 14,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Cập nhật: 24/10/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17596 17869 18448
CAD 17917 18192 18810
CHF 30722 31098 31744
CNY 0 3831 3927
EUR 28297 28514 29597
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3163 3366
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14375 14962
SGD 19677 19958 20530
THB 681 744 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 24/10/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30