Bài 1: Nâng tầm vai trò của dự trữ quốc gia
Bước chuyển lớn trong tư duy quản trị
Ngày 11/12/2025, Luật Dự trữ quốc gia số 145/2025/QH15 chính thức được Quốc hội thông qua, trong đó có những thay đổi căn bản mục tiêu của dự trữ quốc gia so với trước đây. Nghị quyết số 39-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đã nêu yêu cầu mới đối với hệ thống dự trữ quốc gia. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải rà soát, sửa đổi các mục tiêu, nhiệm vụ tại Quyết định số 305/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển Dự trữ quốc gia đến năm 2030 để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó, yêu cầu sửa đổi chiến lược còn xuất phát từ những đòi hỏi bức thiết của thực tiễn. Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, từ xung đột vũ trang, cạnh tranh chiến lược gay gắt làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, đến những rủi ro về dịch bệnh và biến đổi khí hậu cực đoan.
![]() |
Thủ kho của điểm kho ĐK6.KV5 (điểm kho Điện Biên), Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực V kiểm tra chất lượng gạo dự trữ quốc gia trước khi xuất cấp. Ảnh: Đức Thanh |
Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về dự trữ quốc gia và dự trữ ngoại hối đã nhấn mạnh rõ: “Trước bối cảnh tình hình thế giới và khu vực dự báo tiếp tục có những biến động phức tạp, đặt ra yêu cầu cấp bách phải tăng cường dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại hối như một trụ cột quan trọng của an ninh quốc gia, an ninh kinh tế và phát triển bền vững”. Để có khả năng phục hồi tốt trước những cú sốc kinh tế, các quốc gia, trong đó có Việt Nam, buộc phải tập trung xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tự chủ.
Có thể thấy, đây là bước chuyển rất lớn về tư duy quản trị. Dự trữ quốc gia không còn chỉ là “kho dự phòng” để xử lý các tình huống thiên tai, dịch bệnh hay hỗ trợ cứu trợ khẩn cấp, mà đang được định vị là một trong những công cụ quản trị quốc gia quan trọng.
Thời gian qua, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, song quy mô dự trữ quốc gia của Việt Nam còn quá mỏng, dự toán chi mua hàng chỉ chiếm khoảng 0,05% GDP. Việc mua sắm hàng dự trữ quốc gia gặp nhiều khó khăn dẫn đến lượng tồn kho nhiều mặt hàng còn hạn chế. Hệ thống kho tàng còn phân tán, chậm hiện đại hóa và nguồn lực số hóa chưa được triển khai toàn diện. Những hạn chế này buộc ngành Dự trữ phải nhanh chóng thay đổi chiến lược để nâng cao tiềm lực.
Nền tảng quan trọng để Việt Nam phát triển bền vững
Để giải quyết các thách thức trên, dự thảo Chiến lược phát triển Dự trữ quốc gia đến năm 2030 sửa đổi có nhiều điểm mới mang tính then chốt. Trong đó, điểm mới quan trọng nhất là việc tách bạch và bổ sung khái niệm “hàng dự trữ chiến lược” nhằm thực hiện mục tiêu tự chủ quốc gia. Danh mục này được đề xuất bổ sung các tài nguyên, khoáng sản năng lượng (than, dầu mỏ), kim loại màu (đồng, nhôm, thiếc, kẽm, chì) và các sản phẩm công nghệ cao. Mục tiêu là đảm bảo đủ nguồn lực đáp ứng tối thiểu 30 - 60 ngày khi xảy ra khủng hoảng đứt gãy nguồn cung.
Dự trữ quốc gia cần được nâng lên một tầm cao mớiKhi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng chống chịu tốt hơn, dự trữ quốc gia cũng cần được nâng lên một tầm cao mới. Một hệ thống dự trữ quốc gia hiện đại, đủ lớn, cơ cấu hợp lý và có khả năng phản ứng nhanh sẽ là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam ứng phó hiệu quả hơn với những biến động khó lường của thế giới trong giai đoạn tới. |
Đối với danh mục hàng dự trữ quốc gia truyền thống, một số mặt hàng được đề xuất bổ sung gồm ngũ cốc thành phẩm, lương khô, xuồng cao su, xuồng composit gắn động cơ nhẹ, cầu phao, flycam, máy bay không người lái. Theo Cục Dự trữ Nhà nước, đây đều là những mặt hàng gắn trực tiếp với yêu cầu ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo đảm an ninh, quốc phòng và nâng cao năng lực phản ứng nhanh của các lực lượng chức năng. Ngược lại, một số mặt hàng không còn phù hợp với thực tế sử dụng cũng được nghiên cứu đưa ra khỏi danh mục để tránh dàn trải nguồn lực.
Đặc biệt, dự thảo đề xuất các mục tiêu đột phá về quy mô và các chỉ tiêu cụ thể. Dựa trên chỉ đạo của Bộ Chính trị, mục tiêu bao trùm là phấn đấu đưa tổng mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP vào năm 2030 và 2% GDP vào năm 2045. Cụ thể hóa điều này, mức dự trữ đối với hàng dự trữ quốc gia và dự trữ chiến lược do Bộ Tài chính trực tiếp quản lý phấn đấu đạt tối thiểu 0,2% GDP vào năm 2030.
Về hiện vật, mục tiêu duy trì tồn kho khoảng 600.000 tấn lương thực/năm trong giai đoạn 2026 - 2030 để phục vụ an sinh và điều tiết thị trường. Đối với mặt hàng muối ăn, sẽ chỉ sử dụng lượng tồn kho hiện nay để xuất cấp, không bố trí kế hoạch mua tăng thêm trong giai đoạn tới.
Để có thể nâng cao quy mô dự trữ lên 1% GDP, chiến lược đề xuất một cơ chế mạnh mẽ để huy động nguồn lực xã hội hóa. Hệ thống sẽ kết hợp giữa dự trữ nhà nước và dự trữ xã hội hóa đối với hàng chiến lược, khuyến khích doanh nghiệp tham gia theo nguyên tắc thị trường. Các giải pháp đang được thảo luận bao gồm: Nhà nước bố trí quỹ đất để doanh nghiệp xây kho bảo quản, áp dụng các chính sách giảm thuế và hỗ trợ giảm lãi suất vay ngân hàng cho doanh nghiệp tham gia dự trữ…
Cùng với tăng số lượng hàng dự trữ, ngành Dự trữ sẽ chuyển từ phương thức quản lý thủ công để bước sang kỷ nguyên số, hiện đại hóa toàn diện hệ thống dự trữ quốc gia. Chiến lược mới nhấn mạnh việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong việc dự báo nhu cầu và điều hành xuất cấp. Điểm nhấn hạ tầng là việc xây dựng hệ thống kho thông minh cùng dự án “Trung tâm giám sát và điều hành Dự trữ quốc gia”, đảm bảo số hóa xuyên suốt toàn trình từ trung ương đến địa phương trên môi trường mạng.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc hệ thống dự trữ quốc gia sẽ không tiếp tục vận hành theo mô hình truyền thống, chủ yếu dựa vào kho tàng và phương thức bảo quản cũ, mà phải được đầu tư đồng bộ cả về cơ sở vật chất, công nghệ, nhân lực và phương thức quản lý.
Theo đó, Chiến lược xác định sẽ đầu tư, xây dựng hệ thống kho dự trữ quốc gia đáp ứng yêu cầu về công nghệ bảo quản hiện đại, tiên tiến, thông minh, trang bị đủ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cần thiết để thực hiện tự động trong việc nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ quốc gia, dự trữ chiến luợc; bảo đảm tính liên hoàn của hệ thống kho dự trữ theo tuyến, khu vực, vùng lãnh thổ.
Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm hiện đại hóa toàn diện hệ thống dự trữ quốc gia, nâng cao năng lực quản trị, giám sát, dự báo và điều hành xuất cấp, nhập, bổ sung hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược. Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia chất luợng cao, bảo đảm về số luợng, có cơ cấu hợp lý.
Đối với hợp tác quốc tế, điểm mới trong chiến lược là định hướng nghiên cứu cơ chế chia sẻ nguồn lực dự trữ thông qua cơ chế khu vực ASEAN, ASEAN+3. Điều này sẽ giúp Việt Nam chủ động và phản ứng nhanh nhạy hơn trong việc xử lý các tình huống khẩn cấp vượt quá quy mô quốc gia.
Về tổ chức bộ máy, dự thảo Chiến lược định hướng tiếp tục củng cố, duy trì cơ quan quản lý dự trữ quốc gia chuyên trách tại Bộ Tài chính với tổ chức bộ máy theo hệ thống dọc, gồm cơ quan ở trung ương và các đơn vị ở địa phương theo khu vực.
(Bài 2: Dự trữ chiến lược: Thu hút nguồn lực xã hội, bảo đảm tự chủ quốc gia)
Dành cho bạn
Đọc thêm
Khánh Hòa tăng tốc giải ngân các dự án hạ tầng trọng điểm sau khi hoàn tất phân bổ vốn
Dự kiến mức thu phí thi hành án dân sự mới
Hướng dẫn về giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn tiếp lãnh đạo Công ty Tata Consumer Products
4 tháng, Kho bạc Nhà nước thanh toán hơn 525 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách nhà nước
Quảng Ninh khơi thông nguồn lực từ khu vực doanh nghiệp


