Thị trường các-bon mở thêm cơ hội cho cao su Việt
Đó là những nhận định của các chuyên gia, doanh nghiệp tại Hội thảo về cơ hội thị trường tín chỉ các-bon đối với ngành cao su Việt Nam do Hiệp hội Cao su Việt Nam, Tổ chức Forest Trends và Mạng lưới Cao su thiên nhiên bền vững tổ chức mới đây.
Theo bà Nghiêm Phương Thúy - Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), doanh nghiệp có thể thương mại hóa tín chỉ các-bon qua thị trường quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris, các tiêu chuẩn các-bon tự nguyện và thị trường trong nước.
Việt Nam đã có quy định về cơ chế trao đổi, mua bán và bù trừ hạn ngạch phát thải; sàn giao dịch các-bon trong nước được khởi động từ cuối tháng 6/2026, mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp.
Cao su được đánh giá có tiềm năng tham gia thị trường các-bon nhờ chu kỳ kinh doanh khoảng 25 - 35 năm, sinh khối lớn và khả năng hấp thụ, lưu trữ các-bon. Đây cũng là lợi thế trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng quan tâm đến giảm phát thải, sản xuất bền vững và dấu chân các-bon.
![]() |
| Thị trường các-bon mở thêm cơ hội cho cao su Việt. Ảnh minh họa |
Ông Hoàng Bảo Luân - Tổng Công ty Cao su Đồng Nai cho biết, doanh nghiệp đang quản lý khoảng 31.000 ha cao su, trong đó hơn 9.000 ha có chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Hệ thống dữ liệu về tuổi cây, giống, phân bón, nhiên liệu... được lưu trữ nhiều năm, tạo cơ sở tính toán phát thải và hấp thụ các-bon.
Tuy nhiên, doanh nghiệp còn vướng về tư cách pháp lý của diện tích cao su trên đất trồng cây lâu năm, nguy cơ thay đổi mục đích sử dụng đất và trách nhiệm đối với tín chỉ đã phát hành nếu dự án bị thu hồi đất.
Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế là bài toán lớn. Theo ông Vũ Tấn Phương - Giám đốc Trung tâm Chứng nhận quản lý rừng bền vững, dự án các-bon phải trải qua đo đạc, thẩm định, xác minh trước khi tín chỉ được cấp. Không phải toàn bộ lượng các-bon lưu trữ trong cây đều có thể trở thành tín chỉ.
Do đó, doanh nghiệp cần cân nhắc giữa doanh thu từ tín chỉ với chi phí tư vấn, đo đạc và xác minh. Đại diện Tổng công ty Cao su Đồng Nai đề xuất nghiên cứu dự án các-bon quy mô lớn ở cấp Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam để chia sẻ chi phí và nâng hiệu quả.
Các chuyên gia cũng lưu ý, cần phân biệt tín chỉ các-bon với dấu chân các-bon. Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng yêu cầu sản phẩm phát thải thấp, quản trị các-bon không chỉ tạo nguồn thu mới, mà còn giúp ngành cao su nâng cao khả năng cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh./.
| Theo số liệu mới nhất từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cao su đạt 789,5 nghìn tấn, trị giá 1,55 tỷ USD, giảm 12,3% về lượng và 4,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân tăng 8,9%, lên 1.963 USD/tấn. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 59,5% thị phần, nhưng giá trị xuất khẩu giảm 18,1%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Ấn Độ tăng 35,9% và Indonesia tăng 2,4 lần. Mexico ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm 15 thị trường lớn, gấp 3,7 lần, trong khi Nga giảm 40,2%. |


