Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
aa
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Điều hành tỷ giá linh hoạt trong “vùng nhiễu động” Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

Nhập siêu lớn, vì sao tỷ giá trung tâm chỉ tăng 0,25%?

Ngày 22/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 25.183 đồng. Sau khi giảm xuống mức 25.038 đồng vào đầu tháng 3/2026, thời điểm xung đột Mỹ - Iran bùng phát, tỷ giá trung tâm đã tăng dần trở lại. Tuy nhiên, so với đầu năm, tỷ giá trung tâm mới tăng 62 đồng, tương đương khoảng 0,25%, cho thấy mức biến động vẫn tương đối hạn chế.

Trong báo cáo cập nhật vĩ mô vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng nhận thấy, trong tháng 5/2026, tỷ giá giao ngay (spot) dao động trong biên hẹp 26.310 - 26.360 VND/USD, không bứt phá, không có áp lực đe dọa mốc tâm lý 26.550 VND/USD như trong quý I/2026.

Điều này cho thấy thị trường ngoại hối tương đối ổn định, dù nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu dầu, vẫn là áp lực tiềm ẩn trong thời gian qua. Số liệu mới nhất tính đến hết ngày 15/6/2026, mức nhập siêu của cả nước đạt 16,8 tỷ USD từ đầu năm và ghi nhận 6,5 tháng liên tiếp cán cân thương mại thâm hụt.

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Chênh lệch lãi suất thu hẹp, dòng ngoại tệ quay trở lại

Theo TS. Nguyễn Tú Anh, yếu tố rất quan trọng đối với sự ổn định của tỷ giá là lãi suất. Mặt bằng lãi suất trong nước đã tăng lên, khiến chênh lệch lãi suất giữa USD - VND thu hẹp lại. Điều này giúp đảo ngược xu hướng dòng ngoại tệ chảy ra nước ngoài, hỗ trợ dòng vốn quay trở lại thị trường trong nước.

Phân tích nguyên nhân dù mức nhập siêu cao mà tỷ giá vẫn ổn định, chia sẻ gần đây, theo TS. Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Dự án Nghiên cứu về Kinh tế Vĩ mô tại Đại học VinUni, cần nhìn vào số liệu cán cân thanh toán.

Bởi tỷ giá phụ thuộc vào cung và cầu ngoại tệ, không chỉ là cán cân vãng lai (chủ yếu là xuất nhập khẩu), mà còn phụ thuộc vào cán cân tài chính, tức là các dòng vốn và dòng tiền từ nước ngoài.

“Chúng ta từng chứng kiến thời kỳ rất dài, từ khi mở cửa cho đến những năm 2012 - 2014, hầu như thâm hụt cán cân vãng lai. Tỷ giá chúng ta khá là ổn bởi có thặng dư rất lớn của cán cân tài chính, tức là dòng vốn đầu tư vào đủ bù đắp” - ông Tú Anh dẫn tính.

Dù chưa có đầy đủ dữ liệu cán cân thanh toán quý II/2026 do độ trễ công bố, TS. Nguyễn Tú Anh cho rằng vẫn có nhiều yếu tố hỗ trợ tỷ giá. Trong đó, vốn FDI giải ngân duy trì bình quân hơn 1,9 tỷ USD/tháng, trong khi kiều hối ước đạt 3,5 - 4 tỷ USD. Tổng quy mô của hai nguồn ngoại tệ này đã gần bù đắp mức nhập siêu hiện nay, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá.

Một điểm nữa, phần lớn nhập khẩu hiện nay phục vụ cho các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án FDI. “Điều đó có nghĩa các khoản nhập khẩu này phần nào được tài trợ bởi chính dòng vốn FDI đổ vào. Khoảng 2 tháng nữa, chúng ta sẽ có con số về cán cân thanh toán quý II, nếu chúng ta có thặng dư lớn của cán cân tài chính, hoàn toàn không có vấn đề gì với với tỷ giá” - ông Tú Anh bình luận.

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Cùng chung quan điểm, ông Bùi Duy Khoa - Chuyên viên cao cấp VDSC cho rằng, đôi lúc có thể thấy nhập khẩu vẫn tăng nhưng tỷ giá chưa chịu áp lực, hoặc ngược lại xuất siêu lớn, nhưng tỷ giá vẫn tăng là bình thường, bởi áp lực lên tỷ giá chỉ xuất hiện khi dòng ngoại tệ (FX flow) thực sự phát sinh.

"Số liệu xuất nhập khẩu chỉ ghi nhận giá trị hàng hóa tại thời điểm hàng hóa đi qua biên giới và điều đó không đồng nghĩa với việc dòng tiền thanh toán ngoại tệ phát sinh ngay tại thời điểm đó” - chuyên gia VDSC nêu quan điểm.

Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (FDI inflow), đây là biến số phản ánh dòng cung - cầu ngoại tệ thực tế (FX flow) tốt hơn so với số liệu xuất nhập khẩu.

Bên cạnh đó, chênh lệch lãi suất USD - VND được duy trì ở vùng cao từ 0 - 3% góp phần quan trọng trong ổn định tỷ giá. Tuy vậy, đây cũng là một trong nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất trong nước khó hạ nhiệt.

“Nếu tình trạng nhập siêu vẫn diễn ra vào nửa cuối năm 2026 thì áp lực lên cung cầu ngoại tệ sẽ rõ ràng hơn” - nhóm phân tích VDSC đánh giá.

Áp lực thanh khoản trông chờ vào 4 nguồn lực hỗ trợ

Theo đánh giá của VDSC, hệ thống đã bước sang pha chi phí huy động cao hơn do mất cân đối cấu trúc nguồn vốn, vì vậy, khi vấn đề cân đối cấu trúc không được cải thiện, thanh khoản hệ thống chỉ hạ nhiệt kỹ thuật ở từng phiên giao dịch thông qua điều tiết bằng nghiệp vụ thị trường mở (OMO).

Trong bối cảnh thanh khoản hệ thống vẫn chưa giảm căng thẳng, chuyên gia VDSC kỳ vọng bốn yếu tố hỗ trợ thanh khoản thời gian tới.

Mục tiêu ổn định tỷ giá được ưu tiên

“Điều then chốt chi phối thanh khoản hệ thống và mặt bằng lãi suất vẫn là định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước với ưu tiên ổn định tỷ giá” - chuyên gia VDSC nêu quan điểm.

Một là, lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng có thể dần quay trở lại, trong đó, các điều chỉnh gần đây về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh đóng vai trò hỗ trợ.

Quá trình này sẽ diễn ra từ từ, khó tạo ra sự cải thiện đột biến trong ngắn hạn.

Hai là, nguồn thu từ xuất khẩu. Nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu chưa đủ mạnh để hỗ trợ tăng trưởng tiền gửi của khối doanh nghiệp.

Tuy nhiên, diễn biến này được kỳ vọng sẽ cải thiện dần từ cuối quý III/2026, khi hoạt động xuất khẩu bước vào giai đoạn cao điểm theo yếu tố mùa vụ, qua đó, giúp gia tăng nguồn thu ngoại tệ và từng bước chuyển hóa thành lượng tiền gửi bằng đồng Việt Nam trong hệ thống ngân hàng.

Ba là, dòng vốn FDI. Khi lãi suất tiền gửi VND ở mức 8 - 9%, cao hơn đáng kể so với lãi suất cơ bản của Fed (ở mức 3,5 - 3,75%), doanh nghiệp FDI có thể có thêm động lực cơ cấu lại nguồn vốn, chuyển một phần USD sang VND và gửi tại thị trường trong nước.

Bốn là, giải ngân đầu tư công. Đây là động lực mang tính then chốt nếu có sự cải thiện về tiến độ. Khi dòng vốn giải ngân luân chuyển qua các nhà thầu và doanh nghiệp, rồi quay trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi, thanh khoản toàn hệ thống có thể được cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, tiến độ thực hiện và khả năng hấp thụ vốn vẫn là những ẩn số, đặc biệt trong bối cảnh chi phí vật liệu xây dựng và giá năng lượng duy trì ở mức cao. Bên cạnh đó, yếu tố tỷ giá đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa nguồn lực này vào hệ thống ngân hàng.

“Các yếu tố hỗ trợ vẫn cần có thời gian để lan tỏa và kiểm định tính hiệu quả thực tế. Do vậy, trong ngắn hạn, các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và gia tăng vay vốn nước ngoài nhằm bù đắp nguồn vốn thiếu hụt trong nước. Tuy nhiên, các nguồn vốn này đều có chi phí khá cao và ảnh hưởng trực tiếp đến mặt bằng lãi suất và xu hướng lãi suất neo cao còn tiếp diễn trong thời gian tới” - chuyên gia VDSC đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,860 ▲50K 14,460 ▲50K
Trang sức 99.99 13,870 ▲50K 14,470 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,416 ▲3K 14,462 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,416 ▲3K 14,463 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,411 ▲3K 1,441 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,411 ▲3K 1,442 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▲3K 1,426 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▲297K 141,188 ▲297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▲225K 107,111 ▲225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▲204K 97,128 ▲204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▲183K 87,145 ▲183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▲175K 83,294 ▲175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44713K 5,962 ▼53533K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Cập nhật: 13/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17823 18097 18681
CAD 18130 18405 19022
CHF 31339 31718 32362
CNY 0 3830 3940
EUR 29363 29584 30661
GBP 34307 34698 35635
HKD 0 3186 3389
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14923 15509
SGD 19791 20073 20642
THB 702 765 818
USD (1,2) 25767 0 0
USD (5,10,20) 25806 0 0
USD (50,100) 25834 25848 26215
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25870 25870 26240
AUD 18047 18147 19070
CAD 18335 18435 19449
CHF 31644 31674 33260
CNY 3803.2 3828.2 3963.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29584 29614 31339
GBP 34661 34711 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.04 160.54 171.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15063 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19982 20112 20833
THB 0 732.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14100000 14100000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,951 26,001 26,330
USD20 25,901 26,001 26,765
USD1 25,851 26,001 26,815
AUD 18,134 18,234 19,341
EUR 29,478 29,578 31,237
CAD 18,353 18,453 19,756
SGD 20,096 20,246 20,801
JPY 160.89 162.39 167.95
GBP 34,674 34,824 36,150
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80