Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
aa
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Điều hành tỷ giá linh hoạt trong “vùng nhiễu động” Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

Nhập siêu lớn, vì sao tỷ giá trung tâm chỉ tăng 0,25%?

Ngày 22/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 25.183 đồng. Sau khi giảm xuống mức 25.038 đồng vào đầu tháng 3/2026, thời điểm xung đột Mỹ - Iran bùng phát, tỷ giá trung tâm đã tăng dần trở lại. Tuy nhiên, so với đầu năm, tỷ giá trung tâm mới tăng 62 đồng, tương đương khoảng 0,25%, cho thấy mức biến động vẫn tương đối hạn chế.

Trong báo cáo cập nhật vĩ mô vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng nhận thấy, trong tháng 5/2026, tỷ giá giao ngay (spot) dao động trong biên hẹp 26.310 - 26.360 VND/USD, không bứt phá, không có áp lực đe dọa mốc tâm lý 26.550 VND/USD như trong quý I/2026.

Điều này cho thấy thị trường ngoại hối tương đối ổn định, dù nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu dầu, vẫn là áp lực tiềm ẩn trong thời gian qua. Số liệu mới nhất tính đến hết ngày 15/6/2026, mức nhập siêu của cả nước đạt 16,8 tỷ USD từ đầu năm và ghi nhận 6,5 tháng liên tiếp cán cân thương mại thâm hụt.

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Chênh lệch lãi suất thu hẹp, dòng ngoại tệ quay trở lại

Theo TS. Nguyễn Tú Anh, yếu tố rất quan trọng đối với sự ổn định của tỷ giá là lãi suất. Mặt bằng lãi suất trong nước đã tăng lên, khiến chênh lệch lãi suất giữa USD - VND thu hẹp lại. Điều này giúp đảo ngược xu hướng dòng ngoại tệ chảy ra nước ngoài, hỗ trợ dòng vốn quay trở lại thị trường trong nước.

Phân tích nguyên nhân dù mức nhập siêu cao mà tỷ giá vẫn ổn định, chia sẻ gần đây, theo TS. Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Dự án Nghiên cứu về Kinh tế Vĩ mô tại Đại học VinUni, cần nhìn vào số liệu cán cân thanh toán.

Bởi tỷ giá phụ thuộc vào cung và cầu ngoại tệ, không chỉ là cán cân vãng lai (chủ yếu là xuất nhập khẩu), mà còn phụ thuộc vào cán cân tài chính, tức là các dòng vốn và dòng tiền từ nước ngoài.

“Chúng ta từng chứng kiến thời kỳ rất dài, từ khi mở cửa cho đến những năm 2012 - 2014, hầu như thâm hụt cán cân vãng lai. Tỷ giá chúng ta khá là ổn bởi có thặng dư rất lớn của cán cân tài chính, tức là dòng vốn đầu tư vào đủ bù đắp” - ông Tú Anh dẫn tính.

Dù chưa có đầy đủ dữ liệu cán cân thanh toán quý II/2026 do độ trễ công bố, TS. Nguyễn Tú Anh cho rằng vẫn có nhiều yếu tố hỗ trợ tỷ giá. Trong đó, vốn FDI giải ngân duy trì bình quân hơn 1,9 tỷ USD/tháng, trong khi kiều hối ước đạt 3,5 - 4 tỷ USD. Tổng quy mô của hai nguồn ngoại tệ này đã gần bù đắp mức nhập siêu hiện nay, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá.

Một điểm nữa, phần lớn nhập khẩu hiện nay phục vụ cho các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án FDI. “Điều đó có nghĩa các khoản nhập khẩu này phần nào được tài trợ bởi chính dòng vốn FDI đổ vào. Khoảng 2 tháng nữa, chúng ta sẽ có con số về cán cân thanh toán quý II, nếu chúng ta có thặng dư lớn của cán cân tài chính, hoàn toàn không có vấn đề gì với với tỷ giá” - ông Tú Anh bình luận.

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Cùng chung quan điểm, ông Bùi Duy Khoa - Chuyên viên cao cấp VDSC cho rằng, đôi lúc có thể thấy nhập khẩu vẫn tăng nhưng tỷ giá chưa chịu áp lực, hoặc ngược lại xuất siêu lớn, nhưng tỷ giá vẫn tăng là bình thường, bởi áp lực lên tỷ giá chỉ xuất hiện khi dòng ngoại tệ (FX flow) thực sự phát sinh.

"Số liệu xuất nhập khẩu chỉ ghi nhận giá trị hàng hóa tại thời điểm hàng hóa đi qua biên giới và điều đó không đồng nghĩa với việc dòng tiền thanh toán ngoại tệ phát sinh ngay tại thời điểm đó” - chuyên gia VDSC nêu quan điểm.

Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (FDI inflow), đây là biến số phản ánh dòng cung - cầu ngoại tệ thực tế (FX flow) tốt hơn so với số liệu xuất nhập khẩu.

Bên cạnh đó, chênh lệch lãi suất USD - VND được duy trì ở vùng cao từ 0 - 3% góp phần quan trọng trong ổn định tỷ giá. Tuy vậy, đây cũng là một trong nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất trong nước khó hạ nhiệt.

“Nếu tình trạng nhập siêu vẫn diễn ra vào nửa cuối năm 2026 thì áp lực lên cung cầu ngoại tệ sẽ rõ ràng hơn” - nhóm phân tích VDSC đánh giá.

Áp lực thanh khoản trông chờ vào 4 nguồn lực hỗ trợ

Theo đánh giá của VDSC, hệ thống đã bước sang pha chi phí huy động cao hơn do mất cân đối cấu trúc nguồn vốn, vì vậy, khi vấn đề cân đối cấu trúc không được cải thiện, thanh khoản hệ thống chỉ hạ nhiệt kỹ thuật ở từng phiên giao dịch thông qua điều tiết bằng nghiệp vụ thị trường mở (OMO).

Trong bối cảnh thanh khoản hệ thống vẫn chưa giảm căng thẳng, chuyên gia VDSC kỳ vọng bốn yếu tố hỗ trợ thanh khoản thời gian tới.

Mục tiêu ổn định tỷ giá được ưu tiên

“Điều then chốt chi phối thanh khoản hệ thống và mặt bằng lãi suất vẫn là định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước với ưu tiên ổn định tỷ giá” - chuyên gia VDSC nêu quan điểm.

Một là, lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng có thể dần quay trở lại, trong đó, các điều chỉnh gần đây về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh đóng vai trò hỗ trợ.

Quá trình này sẽ diễn ra từ từ, khó tạo ra sự cải thiện đột biến trong ngắn hạn.

Hai là, nguồn thu từ xuất khẩu. Nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu chưa đủ mạnh để hỗ trợ tăng trưởng tiền gửi của khối doanh nghiệp.

Tuy nhiên, diễn biến này được kỳ vọng sẽ cải thiện dần từ cuối quý III/2026, khi hoạt động xuất khẩu bước vào giai đoạn cao điểm theo yếu tố mùa vụ, qua đó, giúp gia tăng nguồn thu ngoại tệ và từng bước chuyển hóa thành lượng tiền gửi bằng đồng Việt Nam trong hệ thống ngân hàng.

Ba là, dòng vốn FDI. Khi lãi suất tiền gửi VND ở mức 8 - 9%, cao hơn đáng kể so với lãi suất cơ bản của Fed (ở mức 3,5 - 3,75%), doanh nghiệp FDI có thể có thêm động lực cơ cấu lại nguồn vốn, chuyển một phần USD sang VND và gửi tại thị trường trong nước.

Bốn là, giải ngân đầu tư công. Đây là động lực mang tính then chốt nếu có sự cải thiện về tiến độ. Khi dòng vốn giải ngân luân chuyển qua các nhà thầu và doanh nghiệp, rồi quay trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi, thanh khoản toàn hệ thống có thể được cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, tiến độ thực hiện và khả năng hấp thụ vốn vẫn là những ẩn số, đặc biệt trong bối cảnh chi phí vật liệu xây dựng và giá năng lượng duy trì ở mức cao. Bên cạnh đó, yếu tố tỷ giá đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa nguồn lực này vào hệ thống ngân hàng.

“Các yếu tố hỗ trợ vẫn cần có thời gian để lan tỏa và kiểm định tính hiệu quả thực tế. Do vậy, trong ngắn hạn, các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và gia tăng vay vốn nước ngoài nhằm bù đắp nguồn vốn thiếu hụt trong nước. Tuy nhiên, các nguồn vốn này đều có chi phí khá cao và ảnh hưởng trực tiếp đến mặt bằng lãi suất và xu hướng lãi suất neo cao còn tiếp diễn trong thời gian tới” - chuyên gia VDSC đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Tỷ giá USD hôm nay (13/6): Tỷ giá trung tâm tăng 5 tuần liên tiếp, chờ loạt ngân hàng trung ương họp lãi suất tuần tới

Tỷ giá USD hôm nay (13/6): Tỷ giá trung tâm tăng 5 tuần liên tiếp, chờ loạt ngân hàng trung ương họp lãi suất tuần tới

(TBTCO) - Sáng 13/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.155 đồng/USD, tăng 8 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng 5 tuần liên tiếp. Ngược lại, tỷ giá USD tự do giảm 140 đồng, về 26.240 - 26.270 VND/USD. Chỉ số DXY chốt tuần ở 99,78 điểm, giảm 0,29%, khi nhà đầu tư chờ tín hiệu chính sách từ Fed, BoE và BoJ trong tuần tới.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,560 14,860
Kim TT/AVPL 14,560 14,860
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,560 14,860
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,150 14,650
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,030 14,580
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 148,500
Hà Nội - PNJ 145,500 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,500 148,500
Miền Tây - PNJ 145,500 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,500 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,560 14,860
Miếng SJC Nghệ An 14,560 14,860
Miếng SJC Thái Bình 14,560 14,860
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,540 14,840
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,540 14,840
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,540 14,840
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,030 14,730
Trang sức 99.99 14,040 14,740
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,456 14,862
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,456 14,863
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,455 1,486
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,545 145,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,062 10,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,329 89,829
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,636 8,586
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,955 61,455
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cập nhật: 23/06/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17885 18159 18741
CAD 18034 18309 18928
CHF 31917 32298 32947
CNY 0 3843 3937
EUR 29512 29733 30816
GBP 34027 34417 35355
HKD 0 3226 3428
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14757 15347
SGD 19807 20089 20668
THB 714 778 831
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26442
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,122 26,122 26,442
USD(1-2-5) 25,078 - -
USD(10-20) 25,078 - -
EUR 29,664 29,688 31,030
JPY 158.52 158.81 168.02
GBP 34,162 34,254 35,352
AUD 18,102 18,167 18,810
CAD 18,224 18,283 18,912
CHF 32,194 32,294 33,168
SGD 19,956 20,018 20,758
CNY - 3,814 3,950
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.77 16.45 17.86
THB 763.72 773.15 825.31
NZD 14,758 14,895 15,300
SEK - 2,699 2,787
DKK - 3,969 4,099
NOK - 2,666 2,757
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,932.89 - 6,680
TWD 751.46 - 908.19
SAR - 6,900.47 7,252.03
KWD - 83,357 88,481
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,102 26,122 26,442
EUR 29,622 29,741 30,924
GBP 34,190 34,327 35,338
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,031 32,160 33,056
JPY 158.84 159.48 167.28
AUD 18,113 18,186 18,777
SGD 20,022 20,102 20,682
THB 780 783 818
CAD 18,236 18,309 18,863
NZD 14,854 15,387
KRW 16.47 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26136 26136 26442
AUD 18076 18176 19099
CAD 18223 18323 19334
CHF 32194 32224 33802
CNY 3824.4 3849.4 3984.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29706 29736 31461
GBP 34319 34369 36127
HKD 0 3355 0
JPY 159.2 159.7 170.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14874 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19976 20106 20829
THB 0 744.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,442
USD20 26,140 26,190 26,442
USD1 23,924 26,190 26,442
AUD 18,143 18,243 19,366
EUR 29,862 29,862 31,284
CAD 18,154 18,254 19,565
SGD 20,064 20,214 20,779
JPY 159.9 161.4 166
GBP 34,184 34,534 35,669
XAU 14,418,000 0 14,722,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/06/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80