Huy động vốn cấp thiết hơn tăng trưởng tín dụng, NIM chờ dư địa phục hồi

(TBTCO) - Chứng khoán BIDV (BSC) cho rằng, bài toán huy động vốn trở nên cấp thiết hơn mục tiêu tăng trưởng tín dụng, khi tỷ lệ LDR của hệ thống duy trì trên 110%. Mức tăng của lãi suất huy động có thể chậm lại 6 tháng cuối năm, thanh khoản dần cải thiện, giúp NIM có thể tăng nhẹ ở một nhóm ngân hàng tư nhân và quốc doanh.
aa
Huy động “đuối sức” trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114% Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

Báo cáo ngành 6 tháng cuối năm 2026 mang tựa đề “Kỷ nguyên vươn mình” do Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) phát hành nhấn mạnh, bài toán huy động vốn trở nên cấp thiết hơn mục tiêu tăng trưởng tín dụng.

Theo nhóm phân tích BSC, tín dụng trong 5 tháng đầu năm tiếp tục tăng trưởng tích cực, nhưng huy động thị trường 1 không bắt kịp, khiến tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của toàn hệ thống duy trì trên mốc 110%. Huy động là bài toán cốt lõi.

Một số nguyên nhân khiến huy động tăng chậm được BSC chỉ ra, đó là giá dầu tăng mạnh, đẩy lạm phát 5 tháng lên sát mục tiêu 4,5% của Chính phủ, làm dư địa cho chính sách tiền tệ không còn nhiều. Cùng với đó, thặng dư ngân sách nhà nước cao, do tiến độ chi đầu tư công còn chậm; cùng tâm lý rút tiền mặt của các hộ kinh doanh.

Huy động vốn cấp thiết hơn tăng trưởng tín dụng, NIM chờ dư địa phục hồi

Do đó, để bù đắp thiếu hụt thanh khoản, các ngân hàng tăng mạnh phát hành giấy tờ có giá, với chi phí cao.

“Giấy tờ có giá kỳ hạn dài có lãi suất cao hơn tiền gửi thị trường 1 từ 80 - 150 điểm cơ bản, tác động trực tiếp lên chi phí vốn và gây áp lực thu hẹp biên lãi ròng (NIM) trong các quý tới” - nhóm phân tích BSC nêu góc nhìn.

Doanh nghiệp chấp nhận lãi suất cao 12 - 15%, NIM bớt áp lực

Về mặt bằng lãi suất cho vay, BSC cho biết, một số ngân hàng cho biết lãi suất thả nổi của các khoản vay đã dần bắt kịp đà tăng của lãi suất huy động. Đồng thời, các ngân hàng cũng đang đẩy mạnh tín dụng đối với các khách hàng doanh nghiệp lớn sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất khoảng 12 - 15%. Theo đó, NIM của nhóm ngân hàng tư nhân có thể đã chạm đáy trong quý I/2026 và sẽ đi ngang trong thời gian còn lại của năm.

BSC kỳ vọng NIM của nhóm ngân hàng tư nhân trong 6 tháng cuối năm 2026 sẽ đi ngang so với quý I/2026, khi chi phí vốn tăng sẽ được chuyển sang lãi suất cho vay.

“Thanh khoản của hệ thống trong 6 tháng cuối năm 2026 sẽ cải thiện so với 6 tháng đầu năm 2026, qua đó, hỗ trợ NIM của toàn ngành không giảm thêm so với đầu năm, thậm chí có thể tăng nhẹ ở một số ngân hàng quốc doanh nhờ áp lực thanh khoản đang dần được giải tỏa” - BSC đánh giá.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một số chính sách nới lỏng thanh khoản ngắn hạn có kiểm soát và có thể tiếp tục triển khai thêm. Yếu tố này được hỗ trợ bởi kỳ vọng áp lực lạm phát sẽ hạ nhiệt khi giá dầu giảm xuống dưới mốc 80 USD/thùng so với đỉnh khoảng 120 USD/thùng.

Bên cạnh đó, đầu tư công được kỳ vọng tăng tốc trở lại và chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI theo Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống.

Đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, trong quý I/2026, NIM đã thoát khỏi nền thấp của năm 2025 - giai đoạn các ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi cho vay. Đáng chú ý, Vietcombank ghi nhận NIM tăng 15 điểm cơ bản so với quý trước và tăng 22 điểm cơ bản so với cùng kỳ, lên mức bình quân 3,07%.

BSC kỳ vọng biên lãi ròng của nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ tiếp tục phục hồi thêm 15 - 20 điểm cơ bản trong ba quý còn lại của năm so với cùng kỳ nhờ hiệu ứng nền thấp./.

Lãi suất huy động hướng tới mức cân bằng mới

Nhìn về 6 tháng cuối năm 2026, BSC kỳ vọng mặt bằng lãi suất huy động thị trường 1 cần tăng lên mức cân bằng mới để tái thu hút dòng vốn trở lại hệ thống ngân hàng, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước không thể bơm thanh khoản qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) với quy mô lớn do áp lực tỷ giá. Tuy nhiên, mức tăng của lãi suất huy động có thể chậm lại so với 6 tháng đầu năm 2026, do Ngân hàng Nhà nước đã có một số điều chỉnh linh hoạt nhằm giảm áp lực thanh khoản cho các ngân hàng trong ngắn hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 20:00
Ngân hàng