Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn không theo kịp, ngân hàng sẽ đối mặt với ba rủi ro lớn, khó đáp ứng chuẩn an toàn Basel III. Trong bối cảnh này, lãi suất cần được điều hành ổn định có chọn lọc, hài hòa nhiều mục tiêu, thay vì duy trì "rẻ đại trà”.
aa

PV: Thưa ông, vì sao mặt bằng lãi suất huy động tăng đáng kể so với trước nhưng tăng trưởng huy động của nhiều ngân hàng vẫn chậm, thậm chí phụ thuộc nhiều hơn các kênh vốn ngắn hạn?

Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Nguyên nhân đầu tiên là dòng tiền trong nền kinh tế có xu hướng phân tán mạnh hơn, thay vì quay lại ngân hàng như giai đoạn khó khăn trước đây.

Trước đây, khi lãi suất duy trì ở mức thấp trong thời gian dài, một phần dòng tiền đã dịch chuyển sang các kênh có kỳ vọng lợi suất cao hơn như bất động sản, chứng khoán, vàng hoặc các tài sản đầu tư khác. Trong khi đó, doanh nghiệp cũng bắt đầu sử dụng lại dòng tiền để mở rộng sản xuất kinh doanh, thay vì gửi ngân hàng như giai đoạn cầu tín dụng yếu trước đây.

Bên cạnh đó, áp lực tỷ giá và chênh lệch lãi suất VND - USD cũng khiến các ngân hàng gặp khó khăn hơn trong việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động thấp. Khi lãi suất VND quá thấp, trong khi USD duy trì ở mức cao, áp lực lên tỷ giá sẽ tăng. Vì vậy, nhiều ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động để giữ chân dòng tiền và ổn định thanh khoản hệ thống.

Trong bối cảnh đó, việc các ngân hàng phải phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường mở (OMO) hay thị trường liên ngân hàng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, mang tính “đệm thanh khoản”, không phải nguồn vốn bền vững để tài trợ cho tăng trưởng tín dụng dài hạn.

Ngân hàng Nhà nước hiện đang ở trạng thái điều hành khá “cân não”. Một mặt, nhà điều hành cần bơm thanh khoản thông qua OMO, để hỗ trợ hệ thống và tránh căng thẳng thanh khoản cục bộ; mặt khác, lại không thể nới lỏng quá mạnh vì áp lực tỷ giá, lạm phát và biến động quốc tế vẫn còn lớn. Điều này lý giải vì sao chính sách tiền tệ thời gian gần đây mang tính “linh hoạt vi mô”, hơn là nới lỏng diện rộng như trước.

Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá
Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn không theo kịp, ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro lớn. Ảnh: An Thư

PV: Tăng trưởng huy động không theo kịp đà tăng tín dụng trong suốt nhiều năm qua, dù lãi suất đã tăng, điều này phản ánh rủi ro gì với hệ thống ngân hàng, thưa ông?

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Khi tăng trưởng huy động không theo kịp tăng trưởng tín dụng dù lãi suất huy động đã tăng, điều đó cho thấy hệ thống ngân hàng đang bước vào giai đoạn áp lực thanh khoản thực sự, chứ không còn chỉ là vấn đề cạnh tranh lãi suất thông thường.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến dần tới các chuẩn Basel III như: tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và tỷ lệ đòn bẩy (LEV)..., các rủi ro này sẽ trở nên nhạy cảm hơn rất nhiều, vì tiêu chuẩn quản trị thanh khoản và an toàn vốn sẽ khắt khe hơn trước.

PV: Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang tiến tới áp dụng Basel III với các yêu cầu khắt khe hơn về thanh khoản và vốn, xin ông phân tích rõ hơn những áp lực và rủi ro đặt ra?

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Rủi ro đầu tiên cần lưu ý mất cân đối kỳ hạn. Hệ thống ngân hàng Việt Nam lâu nay dựa khá nhiều vào nguồn vốn huy động ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung dài hạn, đặc biệt là bất động sản, hạ tầng hay doanh nghiệp lớn.

Khi huy động vốn chậm lại, ngân hàng sẽ phải phụ thuộc nhiều hơn vào OMO hoặc thị trường liên ngân hàng. Điều này có thể khiến khoảng cách kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn trở nên căng hơn. Nếu thị trường xuất hiện cú sốc tâm lý hoặc biến động tỷ giá mạnh, áp lực thanh khoản có thể lan truyền nhanh trong hệ thống.

Trong bối cảnh áp dụng Basel III, điều này đặc biệt quan trọng, vì các chỉ tiêu như LCR yêu cầu ngân hàng phải duy trì lượng tài sản thanh khoản chất lượng cao đủ để đáp ứng dòng tiền ròng trong 30 ngày căng thẳng, còn NSFR yêu cầu nguồn vốn ổn định dài hạn phải phù hợp với cơ cấu tài sản dài hạn.

Điều này có nghĩa là nếu tăng trưởng tín dụng quá nhanh, nhưng huy động vốn ổn định không theo kịp, ngân hàng sẽ gặp áp lực rất lớn trong việc đáp ứng chuẩn an toàn mới.

Lãi suất cân bằng đa mục tiêu

“Lãi suất thời gian tới nên đi theo nguyên tắc không để tăng nóng gây nghẹt tăng trưởng, nhưng cũng không hạ quá nhanh làm mất ”neo“ tỷ giá và lạm phát, cũng không nên áp dụng một mặt bằng lãi suất “rẻ đại trà”. Tín dụng rẻ cần đi vào sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạ tầng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; còn các lĩnh vực có tính đầu cơ tài sản, rủi ro cao phải kiểm soát chặt. Như vậy, lãi suất mới vừa hỗ trợ tăng trưởng thật, vừa tránh tạo “bong bóng” tài sản và nợ xấu mới” - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân.

Rủi ro thứ hai, áp lực chi phí vốn tăng lên. Cạnh tranh huy động bằng lãi suất làm thu hẹp biên lãi ròng (NIM), gây áp lực lên lợi nhuận, trích lập dự phòng và năng lực tăng vốn tự có trong tương lai.

Điều này càng đáng lo khi Basel III không chỉ siết thanh khoản, mà còn nâng yêu cầu về chất lượng vốn, khiến việc cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR) trở nên khó khăn hơn, nhất là với các ngân hàng vừa và nhỏ.

Rủi ro thứ ba, nguy cơ phân hóa thanh khoản trong hệ thống. Các ngân hàng lớn có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao, thương hiệu mạnh và hệ sinh thái khách hàng rộng thường có lợi thế huy động vốn ổn định hơn. Ngược lại, các ngân hàng nhỏ có thể phải đẩy lãi suất lên cao hơn để giữ thanh khoản. Điều này làm gia tăng cạnh tranh không lành mạnh về lãi suất và khiến chi phí vốn toàn hệ thống bị kéo lên.

Nếu kéo dài, hiện tượng này có thể dẫn tới tình trạng tín dụng bị “co cụm” vào các ngân hàng có thanh khoản mạnh, còn các ngân hàng yếu hơn sẽ bị hạn chế khả năng mở rộng tín dụng, dù nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng cao.

Trong giai đoạn tới, hệ thống ngân hàng sẽ phải chuyển từ mô hình “tăng trưởng dựa vào quy mô tín dụng” sang mô hình “tăng trưởng dựa vào chất lượng nguồn vốn và quản trị thanh khoản”.

Ngoài ra, còn một rủi ro lớn hơn ở góc độ vĩ mô là khả năng truyền dẫn chính sách tiền tệ bị suy yếu. Trong điều kiện bình thường, Ngân hàng Nhà nước có thể giảm lãi suất điều hành để hỗ trợ tăng trưởng. Nhưng nếu áp lực huy động và thanh khoản quá lớn, lãi suất thị trường thực tế có thể không giảm theo, thậm chí tăng ngược trở lại. Khi đó, hiệu quả hỗ trợ nền kinh tế của chính sách tiền tệ sẽ giảm đáng kể.

PV: Nhà điều hành đang nỗ lực hãm đà tăng lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế, song vẫn phải cân bằng nhiều mục tiêu vĩ mô, theo ông, đâu là hướng điều hành lãi suất phù hợp hiện nay?

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Mặt bằng lãi suất giai đoạn này cần được điều hành theo hướng ổn định có chọn lọc, chứ không nên cố kéo giảm sâu bằng mọi giá.

Vấn đề là lãi suất hiện không chỉ phục vụ mục tiêu tăng trưởng, mà còn là công cụ giữ ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát. Nếu lãi suất giảm quá mạnh, chênh lệch VND - USD bị thu hẹp, áp lực tỷ giá và tâm lý găm giữ ngoại tệ có thể tăng. Ngược lại, nếu để lãi suất huy động tăng quá cao, chi phí vốn của ngân hàng sẽ tăng, lãi suất cho vay khó giảm, doanh nghiệp bị nghẽn dòng tiền và mục tiêu tăng trưởng GDP sẽ chịu tác động.

Vì vậy, chính sách phù hợp là giữ lãi suất điều hành ổn định, dùng OMO, tín phiếu, hoán đổi ngoại tệ (swap) và tái cấp vốn để điều tiết thanh khoản ngắn hạn, đồng thời yêu cầu ngân hàng tiết giảm chi phí, giảm biên lợi nhuận hợp lý để hạ lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên. Ngân hàng Nhà nước cũng đã phát tín hiệu duy trì chính sách lãi suất linh hoạt, hỗ trợ nhưng vẫn tập trung ổn định thanh khoản và chi phí vay trong bối cảnh bất định toàn cầu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

(TBTCO) - Dòng vốn FDI từ EU còn rất nhiều tiềm năng, song điều quan trọng không chỉ là thu hút thêm vốn mà còn là thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, hình thành quan hệ đối tác đầu tư có chiều sâu... Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Christian-Ludwig Weber-Lortsch, cựu Đại sứ Đức tại Việt Nam, thành viên Ban Cố vấn Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) xung quanh vấn đề này.
Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Đỗ Lê Thành Đạt - Phó Giám đốc, Chuyên gia phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu của VIS Rating nhận định, phát triển trái phiếu hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và khả năng định giá rủi ro sẽ góp phần mở rộng cơ hội huy động vốn dài hạn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Đầu tư công: Đòn bẩy cho cú “bứt tốc” chặng nước rút

Đầu tư công: Đòn bẩy cho cú “bứt tốc” chặng nước rút

(TBTCO) - Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công gắn với khơi thông nguồn vốn tư nhân sẽ tạo lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế trong chặng nước rút năm 2026. Theo TS. Nguyễn Văn Hiến - chuyên gia kinh tế, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing (Bộ Tài chính), cần tháo gỡ điểm nghẽn trong triển khai dự án, đồng thời phối hợp hiệu quả chính sách tài khóa và tiền tệ để phát huy tối đa các nguồn lực.
Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng mở ra dư địa tăng trưởng nhờ tích hợp vào giao dịch số, bán theo khoảnh khắc, thay vì sản phẩm. Theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), lợi thế tiếp cận khách hàng của ngân hàng càng lớn, yêu cầu minh bạch và bảo vệ quyền lựa chọn càng cấp thiết, tránh chạy theo “độ phủ” mà bỏ quên “độ hiểu”.
Nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, mở cơ hội tiếp cận vốn quốc tế

Nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, mở cơ hội tiếp cận vốn quốc tế

(TBTCO) - "Việc cải thiện tín nhiệm quốc gia mở thêm cơ hội tiếp cận vốn quốc tế, trong khi chất lượng doanh nghiệp và tính minh bạch là những yếu tố quan trọng để thu hút dòng vốn dài hạn vào thị trường chứng khoán" - ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc cấp cao Nghiên cứu Chiến lược thị trường, Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC) cho biết khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Doanh nhân đảng viên: Bình đẳng trong kinh doanh, nêu gương về trách nhiệm

Doanh nhân đảng viên: Bình đẳng trong kinh doanh, nêu gương về trách nhiệm

(TBTCO) - Đổi mới quy định về đảng viên làm kinh tế tư nhân cần hướng tới giải phóng nguồn lực phát triển, bảo đảm quyền kinh doanh bình đẳng, đồng thời ngăn ngừa việc lợi dụng quyền lực công để trục lợi cá nhân. Đây là khẳng định của TS. Nguyễn Quốc Việt - chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) khi trả lời phỏng vấn của Báo Tài chính - Đầu tư.
Nâng hiệu quả sử dụng vốn để đạt tăng trưởng hai con số

Nâng hiệu quả sử dụng vốn để đạt tăng trưởng hai con số

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam cho rằng, kinh tế Việt Nam bước vào quý IV/2026 với đà tăng trưởng tích cực, nhưng đồng thời chịu sức ép lớn hơn từ giá cả và yêu cầu huy động nguồn lực cho phát triển. Để phấn đấu đạt tăng trưởng hai con số, điều hành kinh tế cần vừa thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, vừa bảo đảm ổn định vĩ mô và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Chuẩn hóa hoạt động phát hành, làm rõ trách nhiệm trên thị trường trái phiếu

Chuẩn hóa hoạt động phát hành, làm rõ trách nhiệm trên thị trường trái phiếu

(TBTCO) - Chia sẻ với phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam, bà Lương Thúy Ngân - Giám đốc Khối Tư vấn tài chính doanh nghiệp, Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) cho rằng, Thông tư 138 góp phần cụ thể hóa các yêu cầu pháp lý, tăng tính minh bạch và xác định rõ nghĩa vụ của các bên trong suốt vòng đời trái phiếu.
Xem thêm