Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

Thu Hương
(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại. Tuy vậy, mức tăng không lớn và không đồng đều giữa chiều mua - bán.
aa

Giá vàng thế giới

Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao dịch ở mức 4.017,3 USD/ounce, tăng 29,73 USD/ounce, tương đương 0,75% so với 24 giờ trước. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank (chưa bao gồm thuế và các khoản phí), giá vàng thế giới tương đương khoảng 128,1 triệu đồng/lượng.

Trong khi giá vàng trong nước điều chỉnh giảm, chênh lệch giữa vàng miếng SJC và giá vàng thế giới hiện còn khoảng 18,5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại
Giá vàng thế giới tại thời điểm 6 giờ sáng (theo giờ Việt Nam). Nguồn: Kitco.

Dù tăng nhẹ trong phiên cuối tuần, giá vàng thế giới vẫn đang hướng tới tuần giảm mạnh nhất trong khoảng 6 tuần trở lại đây, với mức giảm hơn 3% trong cả tuần. Hợp đồng vàng tương lai giao tháng 8 tại Mỹ cũng giảm 0,5%, xuống còn 3.973,1 USD/ounce.

Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh đồng USD tăng giá sang phiên thứ hai liên tiếp, khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác. Cùng với đó, căng thẳng giữa Mỹ và Iran tiếp tục leo thang, đẩy giá năng lượng tăng mạnh và làm gia tăng lo ngại về lạm phát, qua đó củng cố kỳ vọng lãi suất tại Mỹ sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn.

Theo ông Chris Gaffney - Chủ tịch Thị trường Toàn cầu tại EverBank, đồng USD mạnh lên cùng áp lực lạm phát toàn cầu là hai yếu tố chính thúc đẩy làn sóng bán tháo trên thị trường vàng, khi nhà đầu tư lo ngại mặt bằng lãi suất toàn cầu sẽ tiếp tục ở mức cao.

Mỹ gần đây đã mở rộng các đợt không kích nhằm vào Iran, trong khi Tehran đáp trả bằng các cuộc tấn công vào các căn cứ của Mỹ tại Trung Đông. Diễn biến này khiến giá dầu Brent tăng hơn 14% trong tuần. Tuy nhiên, thay vì hỗ trợ vàng, lo ngại lạm phát do giá năng lượng tăng đã làm gia tăng kỳ vọng lãi suất cao, tạo sức ép lên kim loại quý - tài sản không mang lại lợi suất.

Ông Chris Gaffney cho biết, giá vàng đã bốn lần giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce trong bốn tuần gần đây nhưng vẫn giữ được vùng hỗ trợ quan trọng này. Theo ông, ngưỡng 4.000 USD/ounce có ý nghĩa tâm lý lớn đối với thị trường. Nếu mức hỗ trợ này bị phá vỡ, giá vàng có thể tiếp tục giảm trong ngắn hạn. Ngược lại, nếu lạm phát tại Mỹ tiếp tục hạ nhiệt nhờ giá dầu không tăng quá mạnh, kỳ vọng tăng lãi suất sẽ giảm bớt, qua đó tạo điều kiện để giá vàng phục hồi.

Theo công cụ FedWatch của CME, thị trường hiện dự báo xác suất Fed tăng lãi suất trong cuộc họp tháng 9 ở mức khoảng 53,3%. Trước đó, Phó Chủ tịch Fed Philip Jefferson cũng cho biết sẵn sàng ủng hộ việc nâng lãi suất nếu lạm phát không tiếp tục cải thiện trong thời gian tới.

Giá vàng trong nước

Mở cửa phiên giao dịch ngày 18/7, giá vàng trong nước đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng. Ở phân khúc vàng miếng, DOJI và Bảo Tín Mạnh Hải tăng 900.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa giá giao dịch lên mức 144,5 - 147,5 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu tăng 300.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 900.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, niêm yết ở mức 144,6 - 147,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý tăng 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 900.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá vàng miếng lên ngưỡng 144 - 147,5 triệu đồng/lượng. PNJ cũng tăng 400.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 900.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, hiện giá vàng đang giao dịch ở mức 144 - 147,5 triệu đồng/lượng.

Tại phân khúc vàng nhẫn, DOJI tăng 800.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, giao dịch ở mức 143,3 147,3 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải tăng 300.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, niêm yết ở mức 142,6 - 146,6 triệu đồng/lượng. Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý tăng 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 900.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá lên mức 143 - 146,5 triệu đồng/lượng. Cùng xu hướng, PNJ tăng 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch ở mức 142,5 - 146,5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm
Giá vàng tại thời điểm mở cửa phiên ngày 18/7. Nguồn: PV tổng hợp.

Trước đó, kết phiên giao dịch ngày 17/7, giá vàng trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.

Ở phân khúc vàng miếng, DOJI, PNJ và Bảo Tín Mạnh Hải đồng loạt giảm 1,6 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa giá giao dịch về mức 143,6 - 146,6 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu giảm 1,7 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 1,6 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, niêm yết ở mức 144,3 - 146,6 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý giảm 1,7 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 1,6 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá vàng miếng xuống còn 143 - 146,6 triệu đồng/lượng.

Tại phân khúc vàng nhẫn, DOJI giảm 700.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, giao dịch ở mức 142,5 - 146,5 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải giảm 1,2 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, niêm yết ở mức 142,3 - 146,3 triệu đồng/lượng. Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý giảm 1,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 1,4 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá về mức 142 - 145,6 triệu đồng/lượng. Cùng xu hướng, PNJ giảm 2 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 1,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, hiện giao dịch ở mức 141,5 - 145,5 triệu đồng/lượng.

Thu Hương

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/8: Giá vàng miếng và nhẫn tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 12/8: Giá vàng miếng và nhẫn tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng

(TBTCO) - Mở cửa phiên giao dịch ngày 12/8, giá vàng trong nước đồng loạt tăng ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn. Tuy nhiên, mức giá tăng không lớn, phổ biến từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/8: Trong nước bật tăng, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra

Giá vàng hôm nay ngày 11/8: Trong nước bật tăng, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp đà tăng, thêm gần 48 USD/ounce so với sáng hôm qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước bật tăng trở lại, đặc biệt giá vàng nhẫn ở Bảo Tín Mạnh Hải ghi nhận mức tăng 900.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá vàng nhẫn lên 141,9 - 145,9 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 10/8: Vàng thế giới tăng gần 300 USD trong một tuần, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 10/8: Vàng thế giới tăng gần 300 USD trong một tuần, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Sau nhịp tăng gần 300 USD/ounce chỉ trong một tuần, giá vàng thế giới giữ vững vùng trên 4.300 USD/ounce, song có thể xuất hiện những phiên rung lắc. Mở cửa sáng nay (10/8), giá vàng trong nước giảm nhẹ, khoảng 500.000 đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Giá vàng hôm nay ngày 9/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng mạnh ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, trong đó mức tăng cao nhất lên đến 1,8 triệu đồng/lượng.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,900
Hà Nội - PNJ 140,300 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,900
Miền Tây - PNJ 140,300 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,450
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,760 14,360
Trang sức 99.99 13,770 14,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 17/08/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18841
CAD 18301 18577 19205
CHF 31497 31877 32523
CNY 0 3830 3940
EUR 29598 29819 30911
GBP 34560 34952 35905
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15684
SGD 19887 20169 20753
THB 704 767 821
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25975 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 17/08/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80