Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu các nhóm giải pháp khơi thông và huy động nguồn lực từ doanh nghiệp

Hà Phương
Trình bày Báo cáo trung tâm của Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp sáng 18/7, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, việc khơi thông và huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, trong đó trọng tâm là khu vực doanh nghiệp, cần được đặt trong tổng thể yêu cầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nâng cao năng lực nội sinh, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
aa

6 nhóm khó khăn, vướng mắc lớn của doanh nghiệp

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, qua tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và kết quả rà soát của các bộ, ngành, có thể khái quát những khó khăn, vướng mắc hiện nay thành 6 nhóm vấn đề lớn.

Thứ nhất, về thể chế và tổ chức thực hiện. Đây vẫn là điểm nghẽn lớn nhất. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; việc ban hành văn bản hướng dẫn ở một số lĩnh vực còn chậm; cách hiểu và tổ chức thực hiện giữa các cơ quan, địa phương chưa thống nhất. Thủ tục hành chính tuy đã được cải cách nhưng vẫn còn tình trạng phân tán, thiếu liên thông; chuyển đổi số chưa đồng bộ, doanh nghiệp vẫn phải khai báo nhiều lần, nộp hồ sơ giấy ở một số thủ tục. Bên cạnh đó, ở một số nơi vẫn còn tâm lý e ngại trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trong giải quyết công việc, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu các nhóm giải pháp khơi thông và huy động nguồn lực từ doanh nghiệp
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cùng các Phó Thủ tướng chủ trì Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp. Ảnh: Đoàn Bắc

Thứ hai, về tiếp cận các nguồn lực phát triển. Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng, đất đai và các nguồn lực sản xuất. Thị trường vốn, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và các kênh huy động vốn trung, dài hạn chưa phát huy đầy đủ vai trò. Những vướng mắc về quỹ đất, xác định giá đất, giải phóng mặt bằng và thực hiện nghĩa vụ tài chính tiếp tục làm tăng chi phí, kéo dài thời gian đầu tư.

Thứ ba, về chi phí sản xuất, kinh doanh và dòng tiền. Giá nguyên liệu, năng lượng, logistics, vốn và lao động vẫn ở mức cao; trong khi các yêu cầu mới về tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội làm gia tăng chi phí tuân thủ…

Thứ tư, về thị trường và chuỗi cung ứng. Xu hướng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu về ESG, giảm phát thải và cơ chế điều chỉnh các-bon đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ năm, về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Cơ chế khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm mới chưa thật sự mạnh; liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực số, nhân lực công nghệ và lao động kỹ thuật, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Thứ sáu, về liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp. Mối liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn lỏng lẻo. Việc chia sẻ thị trường, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng và hình thành các chuỗi giá trị trong nước còn nhiều hạn chế, làm giảm hiệu quả lan tỏa của các nguồn lực và ảnh hưởng đến năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, những khó khăn nêu trên có nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, qua quá trình tổng hợp và rà soát, có thể thấy, phần lớn không xuất phát từ việc thiếu chủ trương hay thiếu cơ chế, chính sách, mà chủ yếu do những điểm nghẽn trong quá trình tổ chức thực hiện.

“Đây cũng là nội dung cần được tập trung tháo gỡ với tinh thần quyết liệt, thực chất và đồng bộ hơn trong thời gian tới” - Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.

Giải pháp khơi thông và huy động nguồn lực

Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, việc khơi thông và huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, trong đó trọng tâm là khu vực doanh nghiệp, cần được đặt trong tổng thể yêu cầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nâng cao năng lực nội sinh, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Từ đó, lãnh đạo Bộ Tài chính đề xuất một số giải pháp chủ yếu.

Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu các nhóm giải pháp khơi thông và huy động nguồn lực từ doanh nghiệp
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Báo cáo trung tâm của Hội nghị. Ảnh: Đoàn Bắc

Về giải pháp chung cho khu vực doanh nghiệp, cần hoàn thiện thể chế, cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh. Khẩn trương rà soát, sửa đổi đồng bộ pháp luật về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy, đấu thầu, doanh nghiệp, thuế, hải quan và quản lý chuyên ngành; bảo đảm văn bản hướng dẫn được ban hành kịp thời và có quy định chuyển tiếp rõ ràng. Chuyển mạnh từ tiền kiểm truyền thống sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu, trên cơ sở quản lý rủi ro. Gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ giải quyết, khắc phục tình trạng né tránh, sợ sai và đùn đẩy.

Cùng với đó, đẩy nhanh tái thiết kế thủ tục hành chính trên nền tảng số, kết nối, chia sẻ dữ liệu; công khai đầu mối, tiến độ và tình trạng xử lý hồ sơ; tự động cảnh báo hồ sơ quá hạn.

Khơi thông dòng vốn và dòng tiền cho doanh nghiệp thông qua việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu, hợp đồng, đơn hàng, khoản phải thu…; mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm; phát triển đồng bộ thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và tài trợ chuỗi cung ứng...

Bộ trưởng nhấn mạnh giải pháp tháo gỡ vướng mắc đất đai, dự án và phát triển hạ tầng. Theo đó, cần Hoàn thiện quy trình lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính theo hướng rõ thủ tục, phương pháp, thời hạn và trách nhiệm; phân loại và xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ, công trình ách tắc, đất đai bỏ hoang. Bên cạnh đó, đẩy nhanh hạ tầng chiến lược về giao thông, logistics, năng lượng, khu công nghiệp và hạ tầng số; bảo đảm cung ứng điện ổn định cho các dự án công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và công nghiệp chiến lược.

Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp cũng là giải pháp quan trọng. Cụ thể, thực hiện thống nhất mã hàng, tiêu chuẩn, quy chuẩn và phương pháp kiểm tra; công nhận kết quả thử nghiệm, chứng nhận còn hiệu lực; áp dụng phân loại rủi ro để miễn, giảm kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt; tham vấn, đánh giá kỹ tác động trước khi điều chỉnh thuế, phí, tiêu chuẩn và quy chuẩn; có thời gian chuyển tiếp phù hợp.

Ngoài ra, tiếp tục mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, ESG, truy xuất nguồn gốc, phòng vệ thương mại. Phát huy thị trường trong nước như một bệ đỡ thông qua kết nối cung - cầu, phát triển thương hiệu Việt, hệ thống phân phối trong nước...

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cũng nêu rõ giải pháp đối với từng khu vực doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước, tập trung nguồn lực vào các ngành nền tảng, hạ tầng và công nghiệp chiến lược; đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng vốn...

Đối với khu vực tư nhân, bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai, đầu tư công, mua sắm công và các dự án hạ tầng; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuẩn hóa quản trị, kế toán, công nghệ và tiêu chuẩn để mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, phát triển các mô hình kinh doanh mới như “doanh nghiệp 1 người” để thúc đẩy khởi nghiệp, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Đối với khu vực FDI, chuyển trọng tâm thu hút từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch, hạ tầng số và công nghiệp hỗ trợ; gắn ưu đãi đầu tư với kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, cần thiết lập cơ chế liên kết và đo lường kết quả giữa ba khu vực doanh nghiệp. Lựa chọn các ngành có khả năng lan tỏa cao như năng lượng, điện lực, dầu khí, viễn thông, hạ tầng số, logistics, chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi xanh để xây dựng chuỗi liên kết. Xác định doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn làm hạt nhân; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các công đoạn cung ứng, dịch vụ kỹ thuật, thiết kế, bảo trì và logistics.
Hà Phương

Đọc thêm

3 cơ chế chuyển giao tín chỉ các-bon quốc tế theo Nghị định số 112/2026/NĐ-CP

3 cơ chế chuyển giao tín chỉ các-bon quốc tế theo Nghị định số 112/2026/NĐ-CP

(TBTCO) - Nghị định số 112/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 19/5/2026, mở ra 3 phương án để doanh nghiệp Việt Nam trao đổi, chuyển giao tín chỉ các-bon với đối tác quốc tế, gồm cơ chế song phương theo Điều 6.2, cơ chế tập trung toàn cầu theo Điều 6.4 Thỏa thuận Paris và cơ chế theo các tiêu chuẩn các-bon độc lập.
8 công ty chứng khoán làm thành viên lưu ký các-bon, thép - xi măng - nhiệt điện dẫn đầu đăng ký

8 công ty chứng khoán làm thành viên lưu ký các-bon, thép - xi măng - nhiệt điện dẫn đầu đăng ký

(TBTCO) - Hệ thống lưu ký và thanh toán tín chỉ các-bon đã ghi nhận những kết quả bước đầu với 8 công ty chứng khoán thành viên và hơn 4.500 tấn các-bon được lưu ký, trong khi 92 tổ chức đã đăng ký tham gia thị trường, tập trung chủ yếu ở 3 lĩnh vực thép, xi măng và nhiệt điện, theo thông tin được chia sẻ tại Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026 tổ chức ngày 14/8, tại TP. Hồ Chí Minh.
Tuyên bố chung giữa Việt Nam và New Zealand

Tuyên bố chung giữa Việt Nam và New Zealand

(TBTCO) - Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước tới New Zealand từ ngày 12 - 13/8/2026, hai bên đã ra tuyên bố chung. Báo Tài chính - Đầu tư trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Việt Nam khẳng định đoàn kết, ủng hộ Cuba và gìn giữ di sản Fidel

Việt Nam khẳng định đoàn kết, ủng hộ Cuba và gìn giữ di sản Fidel

(TBTCO) - Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tham dự các sự kiện quốc tế tại Cuba, khẳng định tình đoàn kết, ủng hộ nhân dân Cuba và thúc đẩy hợp tác giữa hai nước.
Tăng cường hợp tác nghị viện, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - New Zealand đi vào chiều sâu

Tăng cường hợp tác nghị viện, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - New Zealand đi vào chiều sâu

(TBTCO) - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Chủ tịch Quốc hội New Zealand Gerry Brownlee nhất trí tăng cường trao đổi, hợp tác giữa hai Quốc hội, tạo động lực thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - New Zealand ngày càng sâu sắc, thực chất và hiệu quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand

(TBTCO) - Tối 13/8 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời TP. Auckland, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand, theo lời mời của Toàn quyền New Zealand Dame Cindy Kiro.
Phát triển toàn diện quan hệ giữa hai nước Việt Nam và New Zealand

Phát triển toàn diện quan hệ giữa hai nước Việt Nam và New Zealand

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đến New Zealand, sáng 13/8 (giờ địa phương), tại TP. Auckland, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm với Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon. Tại hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon nhất trí tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, phát triển toàn diện quan hệ hai nước.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều